Sóng trước đổ đâu…

0
43

SÓNG TRƯỚC ĐỔ ĐÂU…

Lão Liểu thời gian này ốm tệ! Lão ốm đã có dễ đến mấy tháng nay rồi mà lão cũng khồng nhớ được, người quắt queo, gầy đét. Trời mới sang thu mà lão phải nằm trong chăn rên hừ hừ, hừ hừ… Bên giường kia bà vợ cũng mới đổ ốm mấy ngày nay sau khi trông nom thuốc thang cho lão một thời gian dài vất vả. Cả nhà trông vào mỗi con Hằng mới mười sáu tuổi đầu, đang tuổi đi học. Tết trung thu đến nơi rồi, nhà nghèo mới chuyển lên vùng tái định cư này lấy gì mà ăn từ nay đến vụ chiêm!

Lão Liểu nằm cố nhớ lại xem sự việc cách đây hơn mấy tháng? Mấy tháng nhỉ? Có lẽ lâu rồi! Cố nhớ đó mà sao nó cứ lung tung tợn, tại lão ốm chăng? Hay là tối nay ăn chưa no nhỉ? Ý nghĩ sao cứ lộn xộn, lộn xộn tệ! Hôm đó mới vào đầu năm học mới. Hai đứa con về đều xin tiền đóng học phí cho năm học. Giá như còn ở quê cũ, việc xoay xỏa, vay mượn cho con rồi liệu dần thì cũng chẳng đáng lo lắm. Nhưng quê cũ ấy đâu phải của lão, lão cũng chỉ là dân ngụ cư ở đó thôi, quê lão ở đâu bây giờ lão làm sao nhớ được nữa… Chỉ tại cái Ecosan thôi, cái công ty chó chết Ecosan đến chiếm ruộng, san ủi để làm gì đó, trả cho lão ít tiền đuổi lão đến đây, bây giờ mới ra nông nỗi này…

Hôm đó, lại hôm đó nữa rồi, mà hôm đó là hôm nào nhỉ? Lão vay tiền không được, ở đây ai cũng nghèo, ai có tiền cho nhau vay đâu! Lão bảo vợ mang xát năm thùng lúa, bán đi đưa tiền cho con, rồi sau tết ăn cháo thôi cũng được.

Lo xong tiền đưa cho hai đứa con, bữa cơm trưa con Hằng nấu xong cơm mời bố mẹ ăn thì thằng cu Nga cứ dán mắt vào cái bản đồ Hành chính Việt Nam, không nói năng gì. Vợ lão giục con, thằng Nga cũng chả nói gì, nó cứ cắm mặt vào đó. Lão gọi, nó cũng không trả lời dù chỉ cách cái sân chưa đầy năm mét. Lão gọi nữa, nó vẫn không trả lời, thế này có tức không! Đổ mồ hôi, sôi nước mắt để lo cho nó tiền ăn học mà bây giờ nó láo vậy, điên thật! Lão vùng dậy, cầm cái roi tre vẫn đánh trâu lên vọt vào lưng nó đến dăm cái. Ban đầu thằng bé còn ngạc nhiên, sau nó đau quá, oằn oại khóc, miệng mếu máo: “ Con xin bố”. Nó chỉ nói có vậy rồi gục luôn lên trên tấm bản đồ. Lão cáu quá quất thêm mấy roi nữa rồi bỏ xuống nhà ăn cơm.

Vợ lão thấy con bị đánh chả dám nói gì, chỉ chảy nước mắt, bỏ bát đũa đứng dậy. Thấy lão xuống ăn cơm, bà lên ôm lấy thằng con, xoa cái lưng đang rớm máu cho nó mà khóc. Thằng Nga không khóc nữa, nó bỏ lên giường nằm, quay mặt vào tường. Khi lão Liểu ăn cơm xong, lên nhà thì thằng Nga giả vờ đã ngủ. Thấy nó không dậy ăn cơm, lão Liểu nhìn vợ bặm bầu:

– Không ăn đỡ tốn! Có giỏi mày cứ nhịn nữa cho ông. Ông đố đấy!

Hôm đó, lại hôm đó rồi! Chiều hôm đó khi mọi người đi làm về, không thấy thằng Nga đâu nữa. Ba người đi khắp xóm tìm nó mà chẳng thấy nó ở đâu. Bà mẹ và con Hằng vừa tìm, vừa gọi vừa khóc. Lão Liểu cũng đi tìm, nhưng lão vẫn nói cứng:

– Có giỏi mày cứ đi, cứ đi khỏi nhà này cho ông xem!

Cả nhà tìm suốt tối, gọi khan cả giọng, nhưng vẫn không thấy thằng Nga đâu. Hôm sau lại tìm, tìm xa hơn, tìm đến trường, đến tất cả nhà bạn bè nó, nhờ bạn bè nó tìm hộ… mà không thấy bóng dáng thằng Nga ở bất cứ nơi nào. Bà mẹ và con Hăng lần về quê ngoại để hỏi, mọi người đều bảo không trông thấy nó đâu. Tình hình thế này là nghiêm trọng rồi! Lão lấy cái xe đạp rách, hàng ngày đạp lên các bến tàu, bến xe dò tìm mà cả tuần lễ không được. Bà vợ và con Hằng cũng chạy đôn, chạy đáo khắp nơi hỏi thăm mà không thấy bóng thằng Nga ở đâu. Tối về cả nhà im lặng, buồn không ai muốn nói lời nào cả! Hơn tuần lễ sau con Hằng cũng biến mất, nó đi đâu không hề nói với lão, kể cả mẹ, người nó hay thủ thỉ chuyện trò mà cũng cấm thấy nó nói gì. Có người khuyên lên nhờ tivi nhắn tin tìm con, nhưng nhà lão ăn chả đủ, có đâu tiền đi ra tận Thủ đô để làm việc đó!

Con Hằng đi, lão đổ ốm, ốm dần nặng lên, bà vợ đành ở nhà cơm cháo và thuốc thang cho lão. Gần chục ngày sau, con Hằng mặt mày lem luốc, gày trơ xương vai quay về, nó khóc sưng cả mắt nói với mẹ nó là ban đầu nó cứ dọc sông đi tìm em, hỏi mãi, hỏi mãi chẳng có tin gì. Nó lại ngược theo quốc lộ đến các bến xe dò tìm, nhưng cũng không được. Đói quá, nó đành quay về nhà, con Hằng xin lỗi bố mẹ nó đã chót dùng tiền đóng học phí mua mì ăn liền để đi tìm em. Số tiền ấy đã tiêu hết, nó tình nguyện xin thôi học để ở nhà giúp bố mẹ.
Từ hôm con Hằng ra đi, đầu óc lão lại lộn xộn hơn, chẳng nghĩ ra điều mình cần làm là gì nữa. Nghĩ đến cái sau này, cái sắp diễn ra không được thì những cái gì cũ rích nó lại cứ xen vào! Trong đầu lão cứ luẩn quẩn với cái quê hương cũ mà lão chả nhớ cả tỉnh lẫn huyện chứ không nói gì đến xóm thôn. Quê cũ ở đâu? Ở đâu nhỉ? Chả nhớ, chỉ biết nó nằm quanh một ngọn đồi đất khá cao. Trên đỉnh ngọn đồi ấy có đền thờ Thánh Mẫu, lưng chừng đồi là đền thờ Tiên Cô, khi còn bé có lần lão đã được mẹ dẫn lên đó thắp hương. Đền Thánh Mẫu và đền Tiên Cô ở đâu nhỉ, thuộc hướng nào? Lão chịu! Lão chỉ biết là lang thang từ đó đến được cái làng trù phú mà bây giờ Ecosan đã chiếm mất, lão đi trên mấy con đường rải đá khá rộng, lồi lõm không biết bao nhiêu ngày, đói và rét,… và chấm hết. Bây giờ lão nằm đây rên để bà vợ và con Hằng lao động, nuôi lão.

Quê cũ không nhớ được, nhưng cái ngày lão bỏ nhà ra đi thì lão không thể quên. Ngày ấy như còn gần đây lắm, dù nó cũng từ lúc lão còn thơ dại, mới bảy tám tuổi đầu, mà có lẽ còn bé hơn nhiều. Lúc ấy hình như sau cải cách ruộng đất, mà không phải, đã vào hợp tác xã nông nghiệp một thời gian rồi thì phải, ừ có lẽ thế. Bao nhiêu ruộng vườn cúng vào tập thể, con trâu mà bố lão đi mãi đâu lên miền núi cao tậu về cũng đưa vào cho hợp tác từ lâu. Sản xuất đình đốn, thóc thiếu, cả nhà bữa rau bữa cháo cố mà sống. Bố lão chán đời sinh ra cái tật nghiện rượu, cứ rượu vào là chửi vợ đánh con, nhà suốt ngày ầm ĩ. Đến cái hôm, hôm đó, lão Liểu nhớ như in là sau khi tu hết be rượu, bố lão sai mẹ đi mua thêm. Bà mẹ vác chai đi đến các lò rượu chui, nhưng không có tiền nên không ai bán cho. Vợ về không có rượu, lão cầm đòn gánh đánh bà, lão đánh vợ như đánh kẻ thù, bà mẹ lão Liểu gục xuống, ông bố lão quay sang đánh con. Lão Liểu mới xơi hai đòn gánh là gục liền. Thấy con nằm gục, bà mẹ cố lết đến che cho con, thế là trận đánh lại tiếp diễn. Thấy vợ không còn cử động hay khóc được nữa, bố lão Liểu bỏ vào giường nằm xuống và lải nhải chửi. Mẹ lão thấy chồng ngày một say nhiều hơn, đánh vợ con tàn bạo hơn; sợ cứ cảnh này lão sẽ đánh chết thằng con lớn, đành ngậm ngùi xui con bỏ nhà trốn đi.

Cầm mấy đồng tiền mẹ bòn cất được, lão Liểu còn bé tí ôm gói quần áo cứ theo con đường đá hỏng mà đi, đi mãi. Đi đâu, lão cũng chả biết, đến đâu có gì ăn được lão mua lấy ăn. Hết tiền lão đi ăn xin để tiếp tục lấy sức mà lầm lũi bước tiếp. Ăn xin nhiều lúc không được, lão mò vào các ruộng khoai, ruộng ngô ăn trộm để mà sống. Lão đi, đi mãi chả biết bao nhiêu ngày thì đến một vùng khá trù phú. Tuy ở đây cũng đã hợp tác hóa rồi, nhưng lúa tốt, cây cỏ xanh tươi, dân tình không đói như nhà lão. Lão ở đấy ăn xin để sống, xin từ thức ăn đến hớp nước, đến quần áo thừa của người ta. Lão ăn xin có dễ đến dăm bảy năm quanh mấy cái xã ven con sông đó cho đến khi đã học lỏm được nghề nông thì có một gia đình hiếm con đón lão về nuôi. Gia đình người nông dân tốt bụng đó nuôi lão, lấy vợ cho lão và hi vọng lão sẽ hương khói cho họ. Lão ở đấy yên ổn đến nay dễ đến hơn ba chục năm rồi nhỉ, có lẽ thế; cũng có lẽ hơn nữa kia, đến khi cái thằng Ecosan chiếm cả nhà cửa, ruộng vườn đuổi lão đi.

Vẩn vơ suy nghĩ cái tuổi già đang đến, bố lão tuy đuổi lão đấy nhưng nhà còn thằng em trai, thằng Lữu kém lão có mấy tuổi, chắc cha mẹ còn có người hương khói. Mà cha mẹ lão còn sống không nhỉ, mặt mũi thế nào lão không còn nhận ra nữa, chỉ còn nhớ cái gân guốc căm giận của bố hôm ấy và cái mặt mẹ nhòe nước mắt khi bò lết đến che đòn cho lão mà thôi. Thăng Lữu bây giờ có lẽ cũng trên bốn chục tuổi rồi thì phải, mặt mũi ra sao? Lão chỉ nhớ khi còn nhỏ có người bảo nó rất giống lão thôi. Thằng Lữu nếu có con cái chắc đã khá lớn, có khi lớn hơn cả con Hằng cũng nên. Con lão còn bé vì lão lấy vợ muộn mà. Bây giờ thằng Nga đi biệt tích, chắc hương khói của vợ chồng lão sẽ đứt đoạn chứ chẳng phải chuyện chơi! Lão ốm nặng lắm, nhà nghèo đâu có tiền thuốc thang, chắc là lão sẽ chết, chết trong cảnh nghèo túng, đau khổ do bị dằn vặt mà chết đây.

Lão ốm, lão đau, lão rên, lão quặt quẹo, trong cái đau khổ tột cùng nhưng trời lại chưa cho lão chết được ngay đâu. Lão vẫn cứ nằm đấy để vợ lão ốm dở và con Hằng hàng ngày đi làm kiếm tí cơm, tí cháo đưa vào cái dạ dày lão, bòn ra tí chất bổ, tí máu nuôi bộ não để cho lão suy nghĩ lại việc đời. Lão nằm đó mấy tháng ư? Lâu hơn rồi! Sáu tháng ư? Cũng quá đã lâu! Một năm ư? Cũng có lẽ hơn rồi, nhưng lão đâu có chết cho thoát. Lão cứ nằm đó với tí cơm tí cháo từ người vợ gầy còm và đứa con gái ở tuổi mới lớn. Lão cứ nằm đấy rên khừ khừ, nhờ vợ con bón cơm cháo, vệ sinh, tắm giặt cho. Lão còn cái đầu, còn cái đầu thì nó phải nghĩ rồi. Cái đầu nó nghĩ chứ lão có nghĩ đâu, lão đang muốn chết kia mà. Vẫn không chết được vì cái nợ của lão còn lớn lắm, cho đến cái ngày, cái ngày nhà lão có khách.

Ông khách đánh tiếng ngay từ khi chưa bước vào cổng:

– Đây có phải nhà ông Liểu không cháu nhỉ?

– Dạ phải ạ, cháu mời ông vào chơi.

Con Hằng nhanh nhảu trả lời khách và cuộn cái mành cửa cho sáng nhà. Người khách không vào nhà ngay, đứng ở sân ngắm xem gia cảnh, mặt có vẻ buồn buồn. Nhìn chếch ra sân lão thấy khách có cái dáng gì quen quen, nhưng quen ở cái gì thì lão Liểu không thể nhớ ra. Nằm ở cái giường góc nhà, lão Liểu lại nhắm mắt vào để nghĩ xem cái quen quen kia là cái gì, nghĩ mãi mà đố có nhớ được. Không nhớ được, lão lại mở mắt ra để nhìn và tìm cái nét quen quen, nhưng rồi lão chịu! Người khách bước chân vào đến cửa, miệng đã vồn vã chào to:

– Em chào bác Liểu!

Không thấy ai trả lời, ông khách bước qua bậu cửa ngó vào, thấy trong giường một cơ thể quá còm nhom, nằm bất động như cái xác, ông ta vội bước tới ôm lấy nó, nước mắt ứa ra:

– Trời ơi! Bác ốm nặng thế này ư? Em là Lữu đây, em Lữu của anh đây.

Lão Liểu quờ tay định ôm em, nhưng cánh tay lại rơi xuống giường, miệng phều phào không ra tiếng:

– Chú Lữu đấy à? Chú Lữu thực ư? Sao chú tìm được đến nơi này?

Nói đến đó lão muốn ứa nước mắt, nhưng nước mắt cũng chả có nữa, nó đã chảy hết trong bao ngày vừa qua rồi. Lão cố ngóc đầu dậy, nhưng cái cổ yếu quá, không đỡ nổi cái đầu mà tóc còn lưa thưa đôi cái, bạc chẳng ra bạc, đen chả ra đen. Lão nằm im bất động nhìn em, mắt khẽ chớp chớp chậm chạp. Người em ban đầu định dựng anh ngồi lên, song vừa động đến người anh đã nhăn mặt kêu đau. Thấy lão Liểu yếu quá người em đành ngồi cạnh vuốt ve đầu, mặt, tay chân cho anh mà nước mắt ông ta cứ ứa ra.

Nhìn cái nắm xương bọc trong da, ông Lữu lại nhớ đến cải cảnh ở nhà cách đây hơn hai chục năm. Khi Lữu đã biết suy nghĩ thì bố lão lại hiền khô, không rượu chè, thương vợ con lắm. Cứ mỗi tháng bố lão lại đi đâu đó mất dăm ngày, Lữu hỏi mẹ là bố đi đâu, bà bảo: “Đi tìm anh Liểu con đó”. Tìm con mãi chả được, lần cuối ông lão ốm nặng trên đường, người ta khiêng ông về nhà. Ngày ấy bố Lữu ốm nặng, hai mẹ con đã cố gắng hết sức thuốc thang, chạy chữa, song bệnh tình cứ ngày một nặng thêm. Cơ thể ông già sinh ra Lữu có lẽ cũng chỉ còn nắm xương, cũng nhẹ như anh lão bây giờ thôi. Trước lúc lâm chung, cái tay chỉ còn xương và da khẽ vẫy hai mẹ con đến thật gần, ra hiệu ghé sát tai vào mà nghe, cái giọng thì thào nửa âm, nửa dương, đứt đoạn:

– Mẹ con mày hãy cố tìm lấy anh Liểu về cho bố nhé! Bố biết sai mà không sửa được nữa rồi!

Nói xong câu đó, ông già chảy giọt nước mắt cuối cùng, hai mắt dại đi, từ bỏ cả vợ con và công việc muốn làm còn dang dở. Bây giờ ông Liểu nằm đây, chẳng khác mấy chục năm trước với bố của anh em ông. Ông Lữu muốn kể ngay cho anh nghe cái duyên cớ tìm thấy người anh, nhưng sợ ông Liểu sốc mà ra đi ngay thì nguy, nên cứ chần chừ vuốt ve anh chưa dám nói.

Con Hằng ban đầu đứng ngoài sân nghe chuyện và pha nước, sau khi rót nước mời khách, nó tong tả ra đồng tìm mẹ. Nghe tin ông em chồng tìm được đến nhà, bà Liểu mừng lắm, hớt hải về ngay. Trong cái ngày trọng đại này, bà sang nhờ ông y sĩ cùng xóm tiêm cho chồng liều thuốc trợ lực. Có liều thuốc trợ sức, lão Liểu đã tươi tỉnh hơn, cái mắt đã chớp chớp được, cái tay đã lần được đến em, lão nắm bàn tay ông Lữu mà run run.

Cả nhà bây giờ ngồi quanh giường lão Liểu, nghe ông Lữu kể tình đầu chuyện ông tìm đến được đây. Cách đây hơn nửa tháng, có thằng bé hơn mười tuổi gầy yếu, nhem nhuốc tìm đến nhà ông. Gặp lão nó hỏi ngay:

– Thưa, cháu hỏi không phải, ông có phải tên là Lữu không?

– Phải! Tên tôi là Lữu. Cháu muốn hỏi gì?

– Ông có phải là ông Lữu, có người anh tên là Liểu không?

– Phải! Sao cháu biết ông Liểu?

– Cháu là con bố Liểu đây.

Ông Lữu trợn mắt lên, nửa tin, nửa ngờ, song ông cũng tiến đến ôm cái cơ thể nhem nhuốc, gày gò đó vào lòng và hỏi:

– Cháu con bác Liểu ư? Thật không? Tên cháu là gì?

– Cháu tên là Nga, con bố Liểu, cháu tìm mãi mới về đến đây để gặp chú.

– Thế bố mẹ cháu khỏe không? Họ ở đâu, xa đây không?

– Cháu cũng không rõ lắm, cháu đi khỏi nhà đã lâu lắm rồi nên không biết chú ạ.

Biết thằng Nga đói, ông giục nó đi tắm rồi lấy cơm cho nó ăn. Nó ăn, ông cứ ngồi tần ngần nắm đứa cháu nửa mừng, nửa tủi. Để nó nghỉ ngơi thật khỏe, tối đến vợ chồng ông Lữu ngồi nghe thằng Nga kể về chuyến đi tìm về quê cha đất tổ.

Thường nghe cha nói đến quê nội có cái đền Thánh Mẫu và đền Tiên Cô, nghe cha nói có người em tên là Lữu, lâu nay muốn tìm mà không biết tìm nơi nào. Hôm ấy thăng Nga dở bản đồ hành chính soi tìm xem trên đó có ghi hai cái đền ấy không. Nó còn nhỏ, đâu biết được là trên bản đồ Quốc gia họ chỉ ghi đến tỉnh, huyện. Nó cứ mải mê tìm, chẳng nghe thấy mẹ và chị bảo đi ăn cơm, bố quát nó cũng chẳng nghe thấy. Đến lúc ăn mấy cái roi đánh trâu, oằn lưng mà nó cũng chẳng hiểu tại sao nó lại bị đánh nữa. Nó không hiểu sao, khi nó đang mong muốn làm việc tốt giúp bố, vậy mà bố nó đánh nó tàn nhẫn vậy? Cay cú vì chuyện chẳng ra đầu chẳng ra đũa gì, hôm sau nó bỏ nhà đi.

Tuy còn nhỏ dại, nhưng thằng Nga đã biết cần phải làm gì. Bố nó kể quê nó nối với cái Ecosan là mấy con đường lớn, trước rải đá, nay chắc là con đường nhựa. Thế là nó lần về Ecosan và cứ theo con đường nhựa mà đi. Có sẵn tiền học phí trong túi đó, nhưng nó chỉ có mua bánh mì và uống nước lã. Thèm rau quá, nó bứt các lá hay rau dại trên đường đi mà ăn. Cứ đến chỗ nào gặp người là nó lại hỏi đến quả đồi đất cao có đền Thánh Mẫu và đền Tiên Cô. Đi mãi, đi mãi, hỏi mãi, hỏi mãi hết ngày này qua ngày khác mà chẳng ai hay biết gì về cái nơi đó.

Dần dần thằng Nga hết tiền, nó đành đi ăn xin. Thấy thằng bé kể về việc nó đi tìm về quê hương, bản quán, nhiều người động lòng thương, người cho một vài trăm, có người tốt bụng cho hẳn nó chục ngàn. Thằng Nga cứ lần lần mà đi theo dọc con đường nhựa lớn đó. Bao nhiêu ngày nó cũng chả nhớ được nữa, mưa nắng, đói, rét nó cắn răng mà chịu. Cho đến một ngày nó nó đến nơi mà tiếng nói khó nghe hơn, rồi cứ khó nghe dần, tiếng nói líu lo như chim hót. Bây giờ nó mới hiểu là nó đi không đúng hướng, cần quay lại.

Trên đường quay về, cứ bến tàu, bến xe, chỗ đông người là nó đến hỏi thăm về cái đồi đất có cái đền ấy, song chẳng ai biết cái nơi ấy là nơi nào cả. Trên đường quay về, nó cũng may mắn đi nhờ được chú lái xe tải một đoạn khá dài, nhưng chú lái cũng không tường đến cái quê nội nhà nó. Thằng Nga lại vừa đi ăn xin, vừa tìm cho đến một hôm gặp được người đàn ông trên nhà ga tàu hỏa. Thấy ông nói có biết, thằng Nga xoắn vào mà hỏi cho kĩ. Người khách tàu hỏa chỉ cho nó đường đi. Ông khuyên nó nên đi tàu hỏa, đến ga Bình Phú thì xuống, đền Thánh Mẫu cách đó không đến một giờ đi bộ.

Thằng Nga lại đi ăn xin, khi có đủ tiền nó mua vé tàu để đến ga Bình Phú thì xuống. Tàu chạy mất gần nửa ngày thì tới ga, thằng Nga bước xuống, hăm hở hỏi đường đến đền Thánh Mẫu, người ta chỉ cho nó con đường đi. Đến được đền Thánh Mẫu trên một quả đồi đất, nhưng hỏi đến đền Tiên Cô thì quanh đó chẳng ai biết. Ai cũng bảo nó trên quả đồi này chỉ có đền Thánh Mẫu, không có đền Tiên Cô. Thế là không phải quê nội nó rồi, thằng Nga buồn lắm! Buồn nhưng không nản, nó làm lại từ đầu.

Lần này nó lại cứ đi, cứ hỏi thăm tất cả mọi người, nhưng phải hỏi kĩ hơn. Đi bao nhiêu ngày, bao nhiêu đoạn đường dài thằng bé không sao nhớ nổi nữa. Nó cứ lầm lụi bước, cứ mau mồm mau miệng ăn xin, mau miệng hỏi thăm về cái đền Thánh Mẫu và đền Tiên Cô. Kiên trì cũng giúp được cho nó, cho đến một hôm có bà già mới đi lễ ở đó về xuống xe, bà chỉ tường tận cho nó con đường đến đó. Bà còn ghi cả cho nó số xe khách và bến đỗ… Việc của nó bây giờ là ở đây kiếm tiền mua vé xe nữa mà thôi.

Đêm đêm nó ngủ nhờ ghế ở phòng chờ bến xe khách, sáng dậy sớm giúp các quán dọn hàng và xin tiền. Chiều tối lại giúp họ thu hàng và lại xin. Có đủ tiền thằng Nga mua vé và tìm về quê cha đất tổ. Nó hỏi về nhà bà nội, người ta bảo ông bà nó chết cả rồi và chỉ cho nó vào nhà ông Lữu.

Để cho thằng Nga hồi phục sức khỏe, ông Lữu đinh đưa nó về với bố mẹ, nó từ chối:

– Chú đi thôi, cháu mà về bây giờ thì bố đánh cháu chết mất chú ạ. Chú đi một mình xuống đến Ecosan, hỏi lên đó cũng gần thôi, đi bộ chừng hơn một giờ chú ạ.

Nghe ông Lữu kể, mẹ nó và con Hằng nước mắt chứa chan vì thương thằng Nga vất vả, khổ sở. Ông Liểu chẳng nói được gì, mà lão còn nói được gì nữa, nước mắt muốn chảy ra mà còn đâu để chảy! Lão chỉ kéo dần hai bàn tay lại gần đầu rồi ôm lấy cái mặt đã quắt queo, đang dúm dó vì đau đớn. Bà Liểu nhẩm đốt ngón tay tính, tính ra thằng Nga bỏ nhà đi đến hôm nay đã là một năm hai tháng mười một ngày!

LÊ VÂN

NO COMMENTS