Untitled-1

(Viết từ 11/12 đến 16/12/1981, ngày vô anh Trụ nói dưới đây là ngày 12/12/1978, lúc ấy anh Trụ đang hăng say soạn tự điển)

Bên lề sách cũ, tập 1, tôi viết từ năm 1978, xong rồi bỏ dẹp một bên, không màng đến nữa, vì tật lớn không chừa là ưa bỏ mứa, – viết chẳng trông mong xuất bản thì hối-hả làm gì? Bỗng hôm nay nhớ lại một người bạn tốt, anh Lê-Ngọc-Trụ (mất ngày 11/8/1979) thì tôi có lỗi lớn với anh quá. Hôm anh còn sanh tiền, lối cuối năm 1978, tôi vó vô trong anh nhờ duyệt bản thảo bài viết về “nghề làm kim-hoàn” (tránh chữ “nghề làm thợ bạc”), hôm ấy anh có biên cho tôi mấy tờ cước chú “phê-bình”, ngờ đâu tôi đem về không vội viết sạch và đánh máy lại cho kỹ-càng, mãi đến hôm nay, lấy ra coi lại, muốn sao chép lại lời anh, mà biết ký-ức tôi còn đủ trung-thành và không biết trí nhớ của tôi có phản-bội (vô tình phản-bội), anh chăng?

Nói có vong hồn anh làm chứng, nếu có sai lầm, tội ấy tôi xin hứng chịu, duy nay nhớ và viết làm vầy, trong lòng tôi xốn-xang bứt-rứt làm sao. Anh tốt thật.

Chung quanh nghề thợ bạc, những gì tôi đã ghi chép trước đây là để giải-thích về bài bát-cú của Thủ-khoa Nghĩa, tưởng đã khá đầy đủ, nhưng anh bèn viết thêm làm mấy tờ sau đây, – tôi xin giữ đến chết làm bút-tích quí trọng của anh, – và xin sao đúng nguyên văn của anh, – gọi giữ lại hậu-thế, những gì của anh hay giỏi và thành thạo, ngoài chơn-tài của anh, có thể gọi “nghề riêng ăn đứt” là giỏi về chánh-tả Việt-ngữ.

Về bài nghề “thợ bạc”, tôi đây là con nhà thợ bạc mà biết không rành bằng anh và anh đã dạy thêm cho tôi như sau:

Anh Lê-Ngọc-Trụ viết: “Tôi thấy anh còn ghi thiếu nhiều, xin nhắc ra đây, để anh tùy tiện:

Đồ nghề:

1/.Cái đèn hàn, khi xưa là đèn dầu phộng, ba bốn ngọn: khi hàn thợ có cái “ống giọt” (trong bài của anh, anh viết “vọt”), – đầu lớn là chỗ ngậm, đầu nhỏ hơi cong-cong lỗ nhỏ hơn, thợ ngậm và thổi, thì có ngọn lửa nhỏ đủ sức cháy vàng hàn.

Ngày nay, thì dùng dầu xăng, có cái lò-thổi gọi “xúp-lê” (soufflet), đạp cho hơi lên, có dây cao-su chuyền vào bình đựng xăng, một ống cao-su khác, ở đàng đầu có ống hàn. Có khóa mở đóng, khi hàn, đạp cái bàn đạp, đồng thời một tay mở ống khóa, tùy khi hàn hay hơ lửa, – lửa nhò ngọn màu xanh thì để hàn, còn mở lớn hơn, lửa ngọn lớn là để nướng.

2/. Hàn khi xưa để trên miếng than tràm (khúc than chẻ hai, có bịt giấy bạch cho than đừng rã), còn ngày nay có dùng thêm toile amiante (bố nại hỏa): (chú giải thêm – toile amiante nầy, lửa đốt vàng chảy mà toile không chảy, vì vậy dùng thay thề miếng than tràm) trước nữa là than cây thông), vửa gọn vừa tiện thêm vừa sạch sẽ, vừa được đỡ nóng tay thêm được không hao vàng vì không chảy bậy hoặc đóng vào kẹt than).

3/. Chặt vảy hàn ra từ khúc, thì có mũi dứt, mũi dứt này giống như cái đục nhưng toàn bằng thép thật sắc bén.

4/. Giũa thì có nhiều thứ: giũa bản để giũa vảy hàn, giũa ba lá, giũa đuôi chuột.

5/. Thợ làm chuỗi, họ có cái bàn quây, dùng cục đá mài tròn, có cặp cốt sắt để cắm cái dù cỡ chuỗi (nguyên là cây kèo dù có cái móc ở đàng đầu): (giải thích thêm: dù cỡ chuỗi này tôi nghe Bác Hai Huế năm xưa, gọi tên là “con chim” ví nó có đầu nhọn như đầu chim, thợ tròng ống vàng vào đó và dùng búa nhỏ gõ đến trọn hột chuỗi là được) và mấy cái ni cỡ chuỗi muốn làm. Tỷ dụ chuỗi lớn hột, – trộng hột và cỡ nhỏ, thường chuỗi đếm “thiên”, gọi làm vậy cho thêm rôm, kỳ thật “thiên” chỉ có vỏn vẹn một trăm hột mà thôi. Lại có con “dao cỡ” để cắt ống vàng cho đồng một cỡ, và trước khi vàng phải tháp vào ống tròn (do một cây sắt có quấn giấy quyến), cắt rồi, đốt cho cháy hết giấy quyến, rồi để khúc vàng theo cỡ hột chuỗi mà mình muốn làm. Quây xong thì đặt vào bàn chụp. – nguyên là cục đồng bạch có khoét nhiều lỗ tùy ni cỡ chuỗi. Đặt ống vàng vào bàn chụp rồi thợ sẽ dùng mũi chụp, cũng bằng đồng bạch, khoét lỗ đồng một cỡ với lỗ bàn chụp, rồi thợ dùng một cái búa bằng sừng, đầu lớn đầu nhọn, thợ vồ cái búa trên mũi chụp, (hột chuỗi để giữa bàn chụp và mũi chụp), và khéo tay, xoay xoay lần cho hột chuỗi thật tròn. Xong, thì làm bóng: bỏ chuỗi vào khăn mịn có thấm nước xà-bong, rồi hai tay khéo vò bao chuỗi (phải nắm bao lỏng lỏng) và thỉnh thoảng thăm chừng, khi thấy hột chuỗi bóng sạch, sáng ngời, thì lấy ra khỏi bao, rửa tẩy sạch xà-bong rồi phơi khô.

6/. Thợ đồ ngang, khi làm khóa vàng, có cái bàn ren để ren ốc, vặn khóa lại: đó là mấy sắt mỏng có lòng có răng khu ốc (tùy theo ni, đút sợi chỉ vàng mà vặn cho mỗi răng).

Món hàng nữ-trang bày bán nơi tiệm vàng

1/. Có bông tai (hoa tai) kiểu “bông mù-u” hoặc trơn hoặc đậu;

2/. Có dây chuyền chữ “công”, khoen lật, hột dưa, dây chuyền xà-tích (giống xương sống con rắn);

3/. Có mề-đay (médaille) đủ cỡ và đủ kiểu, bằng đồ đậu, hoặc có thứ gọi tòn-ten treo lủng-lẳng lắc lư, miếng mề-đay ấy mặt dưới có kèm một miếng vàng làm cho thật bóng làm cho thêm nổi bật miếng vàng trên mặt;

4/. Cà-ra hay nhẫn, gồm nhiều kiểu: trơn, lá hẹ, chữ ngẫu (ngũ), cửu-khúc liên-hoàn (hườn), khâu, v.v… (cà-rá do carat, mượn của người Á-Rạp);

5/.Kiềng (đeo ở cổ gọi là kiềng cổ, đeo ở chân gọi là kiềng cẳng, khi đeo vào tay gọi là vòng, vàng, hoàn, hườn) và gồm kiềng trơn, kiềng chạm, chạm phân ra có chạm hạ cát (có mụt như hột cát), chạm hạ láng (để láng như kính), chạm lộng, dứt vàng, v.v…

Muốn chạm một chiếc vàng, trước khi phải ra vóc chiếc vàng, uốn cong cho đúng ni tấc vừa vòng tay vòng cổ người đeo, rồi phải vô trám cho dầy phòng khi, lúc chạm, mũi ve không lún móp ăn lủng mất khéo. Đồng thời chiếc vàng được gắn vào khúc gỗ gọi “con rùa” (vì hình thù giống y rùa) và cũng gắn bằng trám là một loại khằng, vừa dèo vừa chắc, đủ sức chịu đựng mũi ve sức búa trổ nên lằn chạm. Nên ghi lại đây là ổ khóa kiềng vẫn khác ở khóa vòng, vì khóa vòng thì để trơn vì có chốt nhỏ khó thấy, còn khóa kiềng, nơi hai đầu để che mối ráp, phải làm một vòng tròn khu ốc, khi đeo sẽ vặn, cốt ý che khuất chỗ nối hai mối liền nhau.

6/. Kiềng cẳng thường làm bằng đồng-thòa, hai đầu có hai búp sen bằng vàng thật cho thêm xuê, cho thêm vẻ sang và mắt tiền.

7/. Về vòng, vàng đeo tay, phân ra còn có th neo đặc, vàng đôi, lại có thứ gọi là còng và đúng là chiếc cùm khóa tay (nhưng đàn bàn thời xưa vẫn ưa thích), chia có có còng đặc, lúc đeo vào làm việc nặng ít sợ móp méo, và khi nào ít tiền thì làm còng bộng, trong lòng có vô trám hoặc đỗ đé (cát sạn to hột), loại còng này hai đầu cụng mí lại và không có khóa. Ngoài các món ấy, thêm có xuyến, xuyến mình dẹp ỡ giữa lớn và tóp lần nhỏ nơi hai đầu, nơi đầu này có hàn sợi chỉ vàng vấn khoanh, để khi muốn đeo vào tay, sẽ nới hai đầu chiếc xuyến cho rộng rộng đủ trồng bàn tay vào, khi xuyến ôm được cùm tay, sẽ từ-từ bóp xuyến lại cho thêm vừa-vặn. Xuyến làm bằng vàng y, không có hàn, không có khóa.

Đó là kể những món thời trước, làm không có nhận hột (hột xoàn, cẩm thạch, trân-châu gọi là hột perle). Nhận hột nay gọi là nhận đá, và đá nầy thường là đá quí: đá mắt mèo, xoàn Xiêm, rubis, kim cương.

Đồ vàng, khi nhuộm xong, phải cườm, phải nhá lại cho thêm trơn bóng. Nhá là lấy cây dao mã-não cọ chà những chỗ trơn bén cho được bóng nhoáng thêm; còn cườm là những hột chai nhỏ, dùng để trau bóng vàng bạc, có kho xỏ luôn vào chỉ thành xâu, thì lấy xâu chuỗi ấy thấm cút nước xà-bong mà cườm. Hoặc hột cườm để rời trong chậu nước, thì lấy tay nắm từng bụm hột cườm ấy mà  cọ mà chà vào vàng thì xong. Thường thường neo đặc (đặc ruột) và vàng dày mới cườm được mạnh tay, chớ vàng mỏng và vàng đậu, khi nhuộm xong chỉ phơi khô là được.

Nữ-trang bằng vàng (vàng đồ, đồng-thòa hoặc bạc) còn có thứ nhận, cẩn ngọc quí, mã-não và thông thường là hổ-phách. Hổ-phách là nhựa cây tòng, khi còn non còn mới thì nhựa tòng dùng xảm trét lỗ hở quan-tài hoặc vật gì, hay dùng gắn vài món nhỏ như phím đàn, nhứt là dùng cọ vào cung đàn cho kêu; trong sách xưa nói nhựa tòng để dưới đấy được trăm năm thì hóa ra phục-linh là một vị thuốc, cho nên trong rừng mấy con nai hìa thường tụ dưới gốc tùng để moi tìm phục-linh ăn cho thêm bổ; còn nhựa tòng kết-tụ trên ngàn năm thì biến ra hổ-phách, vào lửa không cháy, và từ xưa đã biết tách chất hổ-phách biết hít châm theo tư-tưởng châu Âu, và sách Tàu có câu: “hộ-phách thập giới, từ-thạch dẫn châm” (hổ-phách hút hột cải, đá từ-thạch hút kim), trong Kiều còn câu “rụng cải rơi kim” minh chứng. Muốn trau hở-phách, phải có lá duối thì trau mới bóng, vì lá duối mịn hơn giấy nhám. Lại còn phải diêm, là làm cho hổ-phách có lằn rạn nứt thành hồi-văn bên trong thì mới khéo và quí, rạn càng mịn càng tốt, rạn to nét thì xấu, và muốn cho hổ-phách trổ màu đỏ bầm. Có người cầu-kỳ lén để hột hổ-phách trong thân con gà khi thiến, trước khi may bụng gà lại, trong một thời gian không hơn một năm, lúc làm gà sẽ thâu hổ-phách lại và tức nhiên màu hổ-phách đỏ au, không có cách trau nào hơn. Chuỗi hổ, đời xưa có nhiều, nhưng sau nầy thường liệm theo người chết, nên nay có rất ít. Những hột chuỗi tròn thì làm nút áo đàn-bà, những hột to và dài, thì cưa ra làm hai. Làm nút áo đàn-ông, áo Tây cũng được, áo dài cũng xong, và nút hổ thường dùng đồng-thòa làm cốt cho thêm chắc và thêm d0e5p.

Anh Trụ kể tiếp: “Vàng, nên phân biết có thứ vàng y, cũng gọi là vàng mười, tức vàng không pha cùng loại kim khác và giữ được nguyên chất vàng ròng (100%);

  • Vàng đồ là vàng thấp, gồm 8 phần vàng và 2 phần bạc và đồng, vàng nầy cứng, dễ uốn nắn, sửa theo ý thợ, và khi đeo, ít mòn ít móp, không hao;
  • Đồng-thòa là vàng chế tứ-lục, có 4 phần vàng và 6 phần bạc và đồng; màu mó đỏ hường, chất nó cứng ra81nm dùng làm kiềng cẳng, cán dù châm, v.v…;
  • Còn vàng Tây thì nên phân biệt tùy theo số dã thành lệ: vàng 18 karat là vàng 750/1.000; (bởi vàng y kể 24 karat), vàng 18 k có 750 vàng ý và 250 bạc và đồng. Gọi vàng 14k thì 14/24, có lối 0,585 vàng y mà thôi.

Chủ lò muốn chế vàng, phải có cân. Khi xưa dùng “cân tiểu-ly” xách, rất là bất tiện, vả lại không được đúng lắm, nên sau chánh-phủ bắt buộc dùng cân bàn, có trái cân lớn nhỏ tính theo gramme, và mỗi năm sở thuế chánh-phủ xét và đóng dấu chứng nhận trên vá và trên trái cân làm bằng, sau khi thu một món thuế, gọi thuế xét cân lường.

1 lượng vàng có 37gr50, tức 1/16 của cân là 600 grammes. (1 chỉ là 3gr75 và 1 phân là 0gr375)

Phép thử vàng cho biết tuổi: Mỗi lò có cục đá để thử vàng và có một xâu thẻ tuổi vàng. Phải chế thật kỹ mỗi tuổi (vàng đồ, vàng Tây, đồng-thòa) rồi xỏ làm một xâu chứng-vật.

Khi thử, mài cục vàng ấy vào đá (Pháp gọi pierre de touche: đá thử vàng). Đó là một cục đá đen, mặt bằng phẳng. Nhờ thân đá đen nháy, nên vàng cọ mài vào, thì dễ lộ màu. Người thợ giỏi, nhìn màu vàng thì biết tuổi xê-xích, không sai bao nhiêu; rồi lựa thẻ tuổi gần giống với tuổi cục vàng xin thử. Lấy thẻ tuổi này mài kế bên, cũng trên cục đá, xong rồi lấy acide (eau régale) ra chấm, nếu vàng nào thấp hơn thì tan trước, còn nều đồng một tuổi thì sẽ tan cùng một lượt.

Đồ nghề thợ bạc gồm đe, búa nhiều cỡ, có kéo cắt vàng rất bén, có cưa cung bằng sắt, vá có máy cán (laminoir), lại có máy kéo vàng ra chỉ to chỉ vừa-vừa. Muốn có chỉ nhỏ thì dùng filière, gọi là bàn kéo chỉ, v.v… Vàng có thể xả ra manh mún giũa ra mạt và cán mỏng d0e61n một phần ngàn (1/1000) của 1mm (Chép theo ghi-chú của anh Lê-Ngọc-Trụ để lại. Ngày13/12/1981).

Trên đây là ghi-chú về nghề làm thợ bạc theo anh Lê-Ngọc-Trụ viết để lại. Bây giờ tôi mới nhớ, sở dĩ năm 1978, tôi được tập notes của anh mà không vội viết thành văn, là gì tôi cho rằng thừa nên bỏ mứa vì những gì để giải-nghĩa bài bát-cú của ông Thủ-khoa Nghĩa, tôi đã có nói, đến như nghề làm đồ vàng, tôi lướt qua cho tới dài dòng, ngờ đâu động mạch thơ của anh Trụ và anh đã thao-thao để lại tôi mấy trang bút-tích quí giá nầy. Nay đã nói, tưởng nên nói luôn từ đầu chí đuôi gọi cho nó có thủ có vĩ. Gẫm cho cái nghề thợ bạc, tại sao cho rằng bạc, và những người nay cầm cân nẩy mực, coi việc quốc-chánh lại ra lịnh “dẹp nghề”? Những chủ lò có lương tâm, theo tôi biết, đều giàu, con cái đi học tới nơi tới chốn, mà đâu phải là vì ăn bớt vàng và pha vàng không đúng tuổi? Xin tiếp lời anh Trị để bàn rộng trở lại về cách làm ra xâu chuổi vàng thời trước.

Ngày nay nếu phái đẹp có đeo chuỗi, thì ắt họ đeo chuỗi trân-châu (hoặc thứ thiệt thì mắt không thua kim-cương, hoặc thứ trân-châu nuôi (perle de culture), thì cũng giá trên bạc triệu mỗi xâu đều đặn và nước xinh). Nhưng thiết tưởng phụ nữ ngày nay không đeo chuỗi nữa là phải, vì bọn lưu manh châu-thành đâu để họ đeo được lâu ngày. Ngày trước, lưu hình để lại, tôi nhớ tỷ như hình Cô Ba trên con tem gởi thơ khoảng 1915, thì tóc ba vòng một ngọn, hay tay đeo chuỗi hột, phải quấn chặt bó cườm tay từ cổ đến cả náng, càng gần cùi chỏ càng tỏ ra là người giàu sang tột bực, quấn chặt xâu chuỗi tay có sợi chỉ vàng giẹp-giẹp luồn giắt vào sát da cho khỏi sút, còn trên ngấn cổ, lại đeo một xâu chuỗi khác, để thòng xuống khỏi hai ngọc-nhũ, không biết làm mấy vòng, chỉ thấy một khoanh dày cộm, gọi rằng nhởn-nhơ “vàng đeo chuỗi giắt”, tổng cộng trong mình không hơn năm lượng mà thiên hạ đã trầm-trồ ao-ước và thèm muốn thế nào.

Tại châu-thành Sốc-Trăng lối năm 1915 có bác thợ, không biết tên gì, duy thấy bác là người từ đất Huế lưu-lạc vào, bèn đặt tên bác là bác Hai Huế. Bác chuyên môn trau chuỗi hột, ăn công mỗi thiên (một trăm hột) tôi nhớ là mười đồng, chủ lò phải bao mỗi ngày hai bữa cơm chánh, tính ra bác làm ròng rã bổ đồng, mỗi ngày tiền công được một đồng bạc, mà bác sống phủ-phê có đủ buổi sáng cử café hủ-tíu, giấc trưa tối lại có cơm đen, mỗi giấc một ngao tài, giá chỉ có hai cắc bạc, bác còn dư chán và nhiều khi cao hứng bác còn thừa tiền đưa tôi theo ra tiệm nước gọi là nhẫm-xủi, hầu trà: Bác Hai Huế không cần cơm trắng, bác ốm tong teo và ăn như mèo hửi, duy sức làm việc của bác quả là phi-thường, cứ chập tối bác qua ghé lưng tiệm thím Dậu kéo đủ mấy điếu vàng đen, bác về bác gõ búa sáng đêm, và lấy đêm làm ngày, bác miệng vừa ngâm thơ ca hát, tay vừa gõ đều-đều y như các sư tụng kinh, và chuỗi bác trau, không thợ nào trong Nam nầy trau khéo hơn bác được.

Mỗi ngày bốn cắc á-phiện, hai cắc café sáng, còn lại bác Hai Huế cất lên phòng những ngày kiếm không ra việc làm. Và đồ nghề của bác hết sức là đơn giản. Ngày xưa, nội việc kéo ra vàng mấy thước bề dài cũng đủ choáng mấy ngày công ra vóc, doi, dát, dập, kéo cỡ, v.v… nhưng buỗi nói chuyện đây, lối năm 1915, lò nào cũng sắm bàn-cán và sợi chỉ vàng giẹp, độ tám m/m bề ngang, năm thước Tây bề dài, làm trong không đày nửa buổi.

Vàng cán và nướng sạch xong rồi bác Hai Huế lấy kéo có kèm cỡ sẵn, bác cắt vàng ra mảnh vụn y một cỡ, lẹ như học trò độ đo cắt giấy làm và bọc thủ-công. Xong rồi bác uốn tròn sắp vàng lên đều hàng trên miếng than thông rất bằng phẳng, dùng lửa đốt bằng dầu xăng cháy mối hàn mà không cần vảy hàn (vì có vảy hàn thì vàng thấp tuổi, khách đặt hàng không ưng).

Xong việc cháy mối ống vàng, bác lấy lon sữa bò cũ hoặc nồi đất nồi đồng nhỏ, bác “kho” những ống vàng ấy một lần nữa cha sạch chất dơ, rồi bác dùng bàn chụp y như lời anh Trụ đã nói, bác chụp và ra vóc cho mỗi ống vàng, sau nầy biến nên hột chuỗi, phải được tra vào đầu con chim (anh Trụ đã kể, lấy kèo dù cũ giũa cúp lại như đầu con chim, bé bằng đầu kim gút Tây), bác Hai Huế có cái tài gõ thật đều tay và lận hai đầu ống vàng vừa tròn vừa đều-đặn trong nháy mắt.

Tính ra Ba tôi lãnh làm một thiên chuỗi, trừ tiền mướn thợ ra, Ba tôi chỉ còn đôi ba đồng bạc, trong số ấy chỉ lời năm cắc bạc (0$50), về lượng vàng nhường lại, và chớ quên còn tiền nào là tiền cơm nước cho bác Hai suốt những ngày làm ra chuỗi, lại còn phải xoáy miệng hột chuỗi cho thật đều và không bén (vì bén thì đứt chỉ vàng, không nên), một lần nữa, tôi quả quyết chủ lò và thợ có lương-tâm không bao giờ dám “ăn gian trong tuổi vàng” và số vàng.

Nếu cha mẹ có làm chi ác đức thì tôi đâu có được như vầy và anh Lê-Ngọc-Trụ trước khi trở nên một học-giả lỗi-lạc trong Nam dạy chánh-tả suốt mấy năm dài trường Đại-Học, anh Trụ tuy học trường Sư-Phạm trào Pháp, nhưng xuất thân nhờ rèn luyện ở lò vàng của thân-phụ anh làm chủ là cụ Lê-Văn-Ngữ có tiệm vàng đường Đồng-Khánh, và nếu thiếu lương-tâm thì anh Trụ đâu được nhiều người mến tiếc và nhắc nhỡ như hôm nay?

Riêng tôi, tôi nhìn nhận anh là một người bạn tốt và hiền lành như cục bột, trước đây các bạn đồng-liêu đã từng lợi-dụng lòng không sợ nhọc của Trụ, vừa làm giáo-sư giảng bài, vừa chấm thi, vừa gác lớp thi, vừa duyệt bài cho điểm thi, bá bạn vạn sự, mấy cha giáo-sư tân-khoa đều đổ dồn cho anh Trụ gánh. Khi anh nhắm mắt, anh nằm nhà thờ Cha Tam nghe một bài tán-dương khách-sáo, nếu hồn anh được lên chầu Chúa, tôi dám chắc không ắt. Vì bài giới thiệu miệng dơ ấy. Đối với tôi, anh Trụ hơn là bạn, mà thật là thầy. Năm 1943, tôi được cho vào làm hội-viên hội Khuyến-học Sài-gòn, anh Trụ đã không nài khó nhọc chỉ-bảo tôi về lối viết đúng chánh-tả nhưng đến nay tôi vẫn viết còn sai nhiều. Hình-dung anh, những năm gọi rằng “hạnh phúc” là lối năm 1954, anh Trụ được bổ nhiệm làm nơi thư-viện số 14 đường Gia-Long cũ, dưới quyền cố hữu Đoàn-Quan-Tấn làm giám-đốc.

Cơ khổ, được quan thầy, người đàn anh, bạn đồng Hội (Hội Khuyến-học) làm chủ đỡ đầu, thế mà lương bổng anh Trụ là số lương giáo-tập phụ tá, vì khi tuyển vào ngạch, anh không có cấp-bằng; nhưng lúc ấy đang thời tráng-kiện, quần lãnh đen sột-soẹt, áo trắng cụt ngang lưng quần, chân đi guốc vông, miệng cười tít-toét để lòi mấy cái răng vàng, anh Trụ đạp xe đạp từ nhà ở hiện nay vẫn còn số 14 đường Dương-Công-Trừng, anh đạp thẳng ra thư-viện, ở suốt một tuần mới về thăm nhà chiều thứ bảy, nghỉ chúa-nhựt, qua sáng thư hai, lại đạp xe đạp trở ra sở làm như cũ, vẫn đều đều ăn cơm tháng nơi tiệm các-chú góc đường Gia-Long và Thủ-khoa-Huân, và “lãnh lương ăn mày này bị lợi dụng” giáo-tập phụ tá, đến khi anh được anh em đồng-liêu biết thì cất nhắc lên địa-vị giáo-sư thực-thụ, giám-đốc Viện Khảo-cổ, phấn nước vẽ mày mấy năm tàn-niên, anh Trụ vẫn không đổi tánh, vẫn tốt và hiền như bột nắn, anh em ai muốn gì Trụ cũng rán hết sức làm cho vừa lòng, kịp Giải-phóng tràn vào, sách quí kẹt ở sở làm không lấy về được, sách tại nhà, bị mấy bạn đến đổi và mua giá rẻ mạt, thêm lâm chứng nan y. Anh từ năm 1975 ngồi viết thẻ tính làm một bộ từ-điển để đời nhưng công chưa thành, danh chưa toại, anh Trụ đã buông viết, nhà vẫn nghèo khổ, mớ thẻ dở dang, càng nhớ càng đau lòng cho số kiếp con nhà văn, hữu thi vô mạng. Ô hô: Uổng tác thiên niên kế:

Năm nay tôi thuật dông dài công việc làm chuỗi vàng, nhưng tôi không nhớ có thấy Bác Hai Huế quấn ống vàng vào giấy quyến và đốt giấy ấy hồi nhỏ, có lẽ nghề riêng mỗi thợ mỗi khác chút ít, đó chăng?

Lời tục ví không lầm: “thiệt-thà là cha dại”. Hôm nay anh Trụ đã nằm yên trong núm mồ ở Phú-Lâm. Nói đi nói lại mãi về anh, chẳng hóa ra vô tình xúc phạm đến vong-linh một người bạn tốt? Nhưng đây là tôi nhớ anh và tôi được phép kể-lể, tôi muốn nhắc lại những gì tôi biết về anh, không phải gọi minh-oan, vì anh đâu có tội gì, kỳ trung suốt ba bốn chục năm gần anh, tôi muốn ghi lại cho mai sau những cử-chỉ đẹp, những đức-tính khác thường của anh, kẻo có người hiểu lầm. Suốt một đời anh, anh sống một cảnh an-lạc bình-thường, anh đâu phải dại, nhưng vì anh quá thiệt-thà, khiến bao nhiêu người chung quanh anh, đều đổ trút gánh nặng lên anh một cách vô tình và bất ngờ: nguyên một hội Khuyến-học, từ hội đặt dưới quyền điều-khiển của ông Đoàn-Quan-Tấn cho đến ngày hội bị giải tán, định chừng lối 1942 đến 1968, những tập kỷ-yếu của hội đều do một mình anh trông nom về sắp đặt bài vở và coi chừng về chính-tả.

Qua đến thời-kỳ anh giúp việc cũng cho ông Đoàn-Quan-Tấn nơi thư-viện quốc-gia, số 34 đường Gia-Long cũ, các việc chạy trong chạy ngoài của viện đều một mình anh quán xuyến, ghi sổ và xếp đặt loại báo-chí chữ Hán và chữ quốc-ngữ, luôn cả việc vệ-sinh trong viện cũng giao phó cho anh, vì anh là “nội trú’ luôn luôn có mặt tại viện trừ các ngày chúa-nhựt và ngày nghỉ lễ, anh về nhà, và sau rốt trọn mười mấy năm dài anh đóng vai thực thụ giáo-sư dạy về chính-tả nơi các trường Đại-Học ở Sài-gòn, Văn-Khoa cũng như trường Sư-Phạm (riêng các trường như ở Huế anh không nhận vì anh là người không chịu đi xa và chính những nơi đông đảo ồn-ào như tiệc tiếp-tân, lễ khai-mạc anh đều không dự, hoặc cực chẳng đã anh đến cho có mặt rồi cũng lừa lúc ẩn về không cho ai hay biết), những năm xăng-cà-dung rộn ràng mà danh-dự cho anh ấy, anh bị “sai tưới” mà anh đâu có hay có biết. Cả trước lẫn sau, cả cũ lẫn mới, đều lợi-dụng tài làm việc dễ-dàng không thấy mệt của anh, mà anh không ngờ, và vì những việc đổ dồn ấy mà tôi mạn phép dùng chữ “cha dại” nơi nầy, xin vong anh thứ cho. Kể về chính-tả, anh có chữ sẵn trong bụng, anh nào có cần như tôi, mỗi lần viết bài là khuấy rầy cuốn Việt-ngữ chính-tả tự-vị của anh đến nát nhừ cuốn kèn cuốn góc, nhắc lại anh có sẵn chữ trong bụng, thậm chí đối với một chữ, anh đều có thắc-mắc hỏi vặn lại người chất-vấn, xem chữ ấy có dính líu gì với chữ Hán và tiếng Việt chính cống mà anh “cháo chan biết thuộc nằm lòng”, tỷ dụ khi tôi nhắc chữ gốc Miên “Tha-la” là cái chòi nghỉ mát bốn bề trống trơn của người Thổ Miên Nam dùng cho khách lỡ độ đường che nắng trong chốc lát, anh vụt hỏi tôi chớ chữ “tha-la” ấy có ăn nhậu dính-líu gì với chữ “bãi tha-ma” của mình hay chăng, và khi viết đến chữ “cắc bạc ngày xưa”, anh vẫn muốn ép viết “cắt” (có t ở sau) vì cho là do cắt là chặt đồng bạc ra gốc tư (0$20) gốc Tám (0$10) để xài, và tuy anh miệng nói làm vậy mà đã tít-toát nhe răng cười khoe mấy cái răng bịt vàng duyên dáng và vội an ủi tôi rằng đó là anh khuấy tôi thân-mật để cho đời bớt khổ, và tôi không nên rộn trí tin anh bằng lời vì kỳ trung “cắc bạc” phải viết chữ “c” nơi đuôi, một là giản-dị nhứt, “cắc” do bình-dân đặt và đã thành lệ, hai là “cắc” là do chữ “giác” (hào) tức một phần mười của đồng bạc… nói đến đây rồi anh cười hì-hì, bắt qua chuyện khác,…

Nhắc lại vì anh làm không biết mệt vì anh quá có thiên tài về chính-tả, rồi cả thảy người ta đều trông cậy và giao phó việc khó ấy cho anh, tôi nói đây là nhớ lại các giáo-sư trẻ trung nào đã lợi dụng anh, đồng lương thì họ lãnh của họ không sứt mẻ đồng nào, đến như việc làm, thì họ lánh nặng tìm nhẹ mà anh đâu có biết và vì sẵn tánh tốt, anh nào quan tâm đến. Viết đến đây tôi nhớ lại, trước đây ngoài Bắc có cụ Nguyễn-Văn-Tố tuy không xuất thân khoa-bảng hay học trường cao-đẳng bên Pháp, nhưng về Pháp-văn, cụ sửa sai và không bỏ sót chữ nào, mặc dầu do các ông tiến-sĩ và nhân-viên Pháp của trường Viễn-Đông Bác-cổ viết, cho đến đỗi giáo-sư y-khoa bác-sĩ Huard tặng cụ là “sư tử của Viện” (thay vì danh-từ khiêm-tốn cụ xưng là con chuột nhắt, nhỏ nhắt của viện thôi).

Đối với anh Lê-Ngọc-Trụ, tôi không biết phải dùng danh-từ gì cho xứng đáng, phải nói anh từ ngày cầm bút cho đến ngày buông viết, anh là một cầu-thủ bao sân, một kỳ-nhân duy nhất trong Nam, hiền như cục đất, hiền như cục bột, ai muốn nắn nặn làm sao cũng được, anh lại có tánh nết thành-thật quân-tử, ngoài sách vở, ngoài chữ nghĩa, việc đời, riêng anh anh chỉ biết ngày cơm hai buổi, đến như việc làm, như đã nói rồi, ai sai anh cũng rán làm cho vừa bụng anh mới nghe, còn đối với việc nhà, như tôi biết: anh đều giao phó cho người trong nhà, còn chị Trụ thì chị ấy trông lo, chị mất rồi thì có con gái anh coi sóc, thậm chí khi anh nhắm mắt lìa đời.

Anh cũng để cho chung quanh anh và con gái anh sắp đặt, tôi đến viếng tang, thấy mà đau lòng, ngày tắt thở, xa đứa con trai, bên trời góc biển xa xuôi, ngày khâm-liệm, anh nằm trơ kinh-kệ chúng đọc nào anh nghe nữa, và ngày đưa đám, họ áo màu áo đỏ, họ đứng ra năm bảy mục-sư lòe-loẹt, xức dầu ban phép đọc điếu-văn, đọc kinh đủ lễ, làm cho tôi ngẩn-ngơ càng thương anh đến ngày chết cũng còn bị chúng lợi-dụng, hỡi anh Lê-Ngọc-Trụ ôi. Nghẹn ngào một tiềng nấc ra về, hôm nay đã đúng ba năm, ôn lại bài nầy, khóc và tiếc một người bạn tốt. (15/12/1981)

Ngớ lại mấy phen vào nhà anh là đi “xin chữ” của anh, tuy nhà đang bẩn-chật, nhưng anh vẫn có tô bún-chả, tô “ngầu-dục-phảnh” (chữ của anh nói, thay vì “ngưu-nhục-phấn”, chính danh là “phở” nói ríu) và tôi cũng là một thằng lợi-dụng anh đây, hơn nữa là một thằng ăn chực./.

Phụ bút: Con người sanh ra không phải đều toàn thiện toàn mỹ. Nhưng về anh Lê-Ngọc-Trụ, tôi muốn kiếm chỗ để chê anh mà kiếm chưa ra. Không rõ anh có tật xấu nào không, nhưng lấy dư-luận chung, thì tất cả người nào từng tiếp-xúc hay quen biết với anh, Nam cũng như Bắc và Trung, ngoại-kiều cũng như bọn chúng ta, bạn đồng-liêu cùng giảng-dạy ở trường Đại-Học, các sinh-viên và nhân-công lớn nhỏ, đều cho anh Trụ là người tốt, hiếm có, ưa giúp việc và tận tụy giúp và đã làm cho thảy thảy đều vừa lòng.

Ngày anh thôi làm ở thư-viện 35 đường Gia-Long cũ, các người từng đến viện nầy mượn sách hay đọc sách, thảy đều nhìn nhận anh Lê-Ngọc-Trụ quả là “trụ cột”, là linh-hồn sống của viện sách nầy.

Từ khi anh rời nơi đó để qua làm việc ở Viện Khảo-cổ Sài-gòn, thì thư-viện Gia-Long như động-cơ thiếu xăng, không phải những người kế tiếp anh ở đó thiếu năng-lực, nhưng họ như con ốc khép hai cánh miệng, quá chuyên-môn, quá máy móc, quá chuyện hành-chánh, nhưng thư-viện không còn cái nếp sống “có hồn”, vì người chủ-động biết hoạt-động đã vắng mặt.

Một cử chỉ nhỏ để nhắc nhở anh Trụ là anh có một cây bút máy hiệu Scheaffer’s,- truyền rằng phóng vào gỗ không hư ngòi, – anh trân trọng và quí như tay chân không rời giây phút khỏi tay, vả lại chữ anh rất đẹp, nét như gấm thêu, hàng hàng đều đặn như dao cắt, một hôm vì muốn sưu-tập chữ ký lạ, anh trao bút cho một soạn-giả tự-điển ở đất ngàn năm văn vật, vào đây, là khi được chữ ký rồi, nhớ lại cây viết thì không còn nơi túi áo trên. Như thợ may mất kim. Anh Trụ phải nhờ cô ái-nữa học ở Đài-Bắc về sắm cho cây khác. Vốn tánh thật thà, anh Trụ quen tay cứ mò mò vỗ-vỗ vào chỗ cũ cây bút máy, đinh ninh không biết nó có cánh bay…

VƯƠNG HỒNG SỂN
15/12/1981

 

 

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY