Câu hỏi này tôi cứ đau đáu mãi. Nó bật ra từ rất nhiều lần phải chứng kiến những chuyện đau lòng với cái nghề mình đam mê và theo đuổi: nghề báo. Có một hội chứng mang tên “xa dân” ở không ít nhà báo hiện nay.

Cách đây mấy năm, báo chí “chia phe” ủng hộ và phản đối xây dựng dự án thủy điện trong vườn Quốc gia Cát Tiên. Tôi gọi là chia phe vì với hơn 1.000 bài báo (có lẽ nhiều hơn những tôi chưa sưu tầm đủ) thì lý lẽ của những người muốn bảo vệ rừng và muốn xây dựng thủy điện đều được phơi bày rõ ràng trên mặt báo, đối nhau chan chát. Cuối cùng thì dự án cũng không được Chính phủ cho phép triển khai. Nhưng cái hậu của nó thì tôi vẫn mang theo cùng với sự cảnh giác cao độ về sau…

Đó là ekip của một đài truyền hình lớn bay từ Hà Nội vào nhưng chỉ đi xe hơi tới bìa rừng rồi thôi. Họ không đi xuyên rừng để xem thực địa nơi dự án (khi ấy) dự kiến triển khai. Tư liệu hình ảnh của họ xin từ đài địa phương và nội dung câu chữ mập mờ có lợi cho chủ đầu tư thủy điện.

Đó là cách làm báo, theo tôi, rất không đàng hoàng. Ekip nhà báo, quay phim hôm ấy không tiếp xúc với bất kỳ đồng bào Châu Mạ nào ở khu vực làm thủy điện để nghe dân nói về nỗi lo sinh kế nếu thủy điện hoàn thành. Nhà báo đã chọn chủ đầu tư, lắng nghe họ và không nghe dân.

Dự án lấp sông Đồng Nai năm trước cũng rơi vào tình trạng tương tự.

Nhưng tờ báo địa phương đã đăng tải những bài viết mà không có sự kiểm chứng từ phía người dân. Ý kiến của doanh nghiệp, chính quyền trên báo thì đây là dự án “vì một triệu dân Biên Hòa”. Cứ cho là họ thật tâm nghĩ vậy thì một triệu dân Biên Hòa chỉ là 1/20 của dân số vùng Đông Nam Bộ, nơi con sông Đồng Nai chảy qua…

Chính tôi đã hỏi chủ đầu tư khi dự án chưa triển khai, trước sự chứng kiến một nhà báo của báo TT, rằng: “Anh đã làm khảo sát ý kiến người dân bị ảnh hưởng bởi dự án chưa?’. Chủ đầu tư đáp: “Đã làm rồi, dân đồng tình lắm!”. Kết quả của sự đồng tình ấy là 96% người dân được khảo sát bởi tổ chức Mạng lưới sông ngòi Việt Nam (VRN) đã phản đối dự án này và chẳng có chính quyền, doanh nghiệp nào hỏi ý họ trước đó. Vậy mà vẫn có những bài báo bảo vệ dự án này bằng phương pháp ngụy biện kiểu “Đánh thắng hai đế quốc to, sợ gì xây tháp truyền hình?”

Còn nhiều nữa những câu chuyện “xa dân” của giới báo chí. Như cách mà nhiều tờ báo đã bê nguyên xi thông cáo báo chí của doanh nghiệp về vụ thú chết ở Phú Quốc. Như cách mà nhiều nhà báo đã đi xác minh bằng cách ăn ở, tắm biển, vui chơi với doanh nghiệp mà không biết nhiều hộ dân nơi đó khiếu nại về việc đền bù không thỏa đáng. Như cách nhân danh chống thực phẩm bẩn để “đánh” người nông dân tới cùng kiệt.v.v.. Và người phụ trách PR của một tập đoàn lớn (và đang là nhà báo) đã “ý nhị” với tôi rằng “Có những điều không thể thay đổi được. Có những quyền lực không ai chạm đến được…”

Hay như cách một nhà báo trắng trẻo, ăn mặc sang trọng đề nghị tôi nhận một trang báo điều tra với mức giá 5 triệu. 5 triệu ấy để “cống nộp” còn kiếm 15-20 triệu do dân chi, doanh nghiệp chi để được lên báo (hoặc không lên báo) thì tôi hưởng, anh ta “ngửa bài” như vậy đó!

Từ chối những nhà báo xa dân như vậy, tôi không chút luyến tiếc. Mất “thiện ý” của tập đoàn lớn vài chục nghìn nhân viên, tôi cũng không tiếc. Vì không có nguồn tin nào lớn hơn nhân dân cả!

Nhưng tại Việt Nam hiện nay có hơn 26.000 nhà báo, phóng viên và hơn 1.000 cơ quan báo đài mà sao câu hỏi kia vẫn còn ám ảnh tôi?

Bây giờ nhà báo rất đông

Bao nhiêu nhà báo dân trông cậy vào?

MAI QUỐC ẤN

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY