TRƯỜNG TÔI NGÀY CŨ – ĐẠI HỌC KHOA HỌC SÀI GÒN

Đoc bài viết này nhớ lắm cái thời xa xưa đó. Sau ngày 30/4/75 đi học bị phân biệt SV chế độ cũ thật rõ rệt. Nhưng nếu không đi học thì biết làm gì khi tương lai mù mịt ở phía trước….. Một bài viết hay của một chị lớp D cùng khoa Sinh đã nói lên được ít nhiều sự thật phũ phàng ngày ấy. . . .

Trường xưa bạn cũ.

Sau một thời gian dài vất vả gây dựng lại cuộc đời, nơi xứ lạ quê người. Người ta chợt nhớ về những ngày tháng cũ, thế là phong trào tìm về “mái nhà xưa” nở rộ như nấm mọc sau cơn mưa.

Trường của chúng tôi cũng không ngoại lệ. Website Đại Học Khoa Học SaiGon được hình thành. Hai chữ Saigon như một khẳng định, đây là nơi gặp gỡ của những người bạn cũ khi xưa, cùng học dưới mái trường tên là Đại Học Khoa Học.

Khi nước nhà đổi chủ, có nghĩa là mọi thứ cũng đổi theo. Tên Khoa Học SaiGon được thay bằng Đại Học Tổng Hợp.

Con đường Cộng Hòa trước trường đổi thành đường Nguyễn văn Cừ.

Người cũ trẻ nhất lúc đó, nay cũng đã thuộc loại “lục thập nhi nhĩ thuận”, nghĩa là đến tuổi này, lỗ tai nghe điều chi cũng lọt hết.

Chứ hồi đó không phải vậy đâu. Tôi là con nhỏ cãi hăng nhất. Tôi bảo rằng tại sao gọi ông Shakespeare là ông “Xa xỉ tỉ Á”. Ông Montesquieu là Mạnh Đức Tư Kiu. Tổng Thống Ford của Mỹ lúc bấy giờ viết thành Pho, theo lối Việt Nam. New York thì gọi là Niu Ót. Trong bài học thì sửa hormone thành hót môn. Thiệt là quái đản! Người ta trả lời, vì chúng tôi không đứng trong lập trường của giai cấp vô sản, bần cố nông ít học, người ta không đọc được nguyên bản. Tôi lại nói rằng: như vậy nghĩa là thay vì nâng trình độ của người không biết chữ lên- khi thấy chữ lần đầu không biết, lần sau họ sẽ biết- thì lại kéo người trên cao cho bằng người dưới thấp.

Còn lý thuyết của chủ nghĩa xã hội, khi nghe trong giảng đường thấy có vẻ có lý. Bước ra ngoài, không có tiền ăn trưa, bụng đói meo. Lại thấy chủ nghĩa xã hội là không thực tế. Chính trị viên lại bảo rằng: chỉ cần bạn công nhận 1/1.000 cái đúng, là chúng tôi đã thành công rồi đấy. Bởi vì muốn lay đổ một bức tường. Mỗi ngày phải lay một chút mới thành công.

Thiệt đúng là nói láo như vẹm! Tôi chẳng thèm cãi nữa. Bây giờ sau mấy chục năm thì mọi thứ đã có câu trả lời: nếu cây cột đèn có chân, nó cũng bỏ chạy nơi nào có chủ nghĩa xã hội.

Nhạc Sĩ Y Vân trong bản nhạc Sáu mươi năm cuộc đời, đã mở đầu bằng giai đoạn 20 tuổi đầu tiên:

Em ơi có bao nhiêu?
Sáu mươi năm cuộc đời
Hai mươi năm đầu, sung sướng không bao nhiêu.

Quả đúng là như thế, những người sáu mươi tuổi ngày hôm nay. Hai mươi năm đầu của họ có sung sướng chút nào, nếu không muốn nói là khốn khổ, như Thi Sĩ Vũ hoàng Chương đã thở than dùm cho họ:

Xuân đời chưa hưởng kịp, mây mùa Thu đã sang.

Sau biến cố 30 tháng Tư, có rất ít người vượt thoát được, còn lại đám sinh viên của chúng tôi lêu bêu, chẳng biết làm gì (ra tiền). Trường học thì đóng cửa, chỉ có học sinh phổ thông mới được trở lại trường để học tiếp niên học.

Sinh viên miền Nam được coi như học quá nhiều, nên tạm ngưng.

Thời gian đó mạnh ai nấy bung để kiếm sống, một số rủ nhau vô vườn Tao Đàn mở quán cà phê. Nhỏ Yến, bạn tôi, kêu chán đời, về quê Cần Thơ, phụ bán bún riêu với bà chị. Bản thân tôi cũng lên chợ Cầu Muối mua khoai mì vạt về làm bánh, mang tới trường cũ, giao cho bà lao công bán. Đợi khi học trò về hết, mới đi ngã sau vô lấy tiền. Người ta về trường vinh hiển biết bao, còn tôi? Cô học trò chăm ngoan thầy yêu bạn mến thưở nào, không dám gặp mặt các thầy giáo cũ, đành đi cổng sau, như một kẻ tôi đòi. Cô bạn hoa khôi, gần nhà, thì giỏi đủ thứ: cầm, kỳ, thi, hoạ. Nhưng khi cả nước nhốn nháo, đâu có ai còn lòng dạ nào mà thưởng thức nghệ thuật. Nhưng cô cũng giỏi nữ công gia chánh, tôi đề nghị làm bánh bao. Làm xong, khi bánh còn nóng hổi, tôi bưng từng khay mời khách hàng trong những quán hủ tiếu, cà phê gần nhà. Thôi kệ, buồn quá, bày ra làm đủ thứ. Tôi xung phong bưng bánh đi bán giúp bạn, chứ để cô hoa khôi mang ra quán cà phê, con trai lại té xỉu.

Thương người như thể thương thân. Bạn bè lúc hoạn nạn chia xẻ cho nhau. Kiếm được chút tiền còm, ai cũng mừng hớn hở, quên bẵng mới hồi nào, mình cũng yểu điệu thục nữ.

Chung quanh toàn là cảnh lên voi xuống chó. Xe Honda xếp xó (vì không có xăng), cứ xe đạp chạy vù vù.

Đổi đời có khác!

Thật sự ra lúc đó ai cũng hoang mang, chẳng biết số phận mình như thế nào, nên bạ cái gì cũng làm cho khuây khỏa, vì mình như cá nằm trên thớt, chứ nhà nào cũng còn chút đỉnh tiền. Có điều ai cũng sợ, tiêu hết, lấy gì sống? Vả lại cả nhà ai cũng bị thất nghiệp, vì toàn là nhân viên của chế độ cũ. Cảm thông cho những con người sa cơ thất thế, các cụ già trong xóm thường tỏ vẻ ái ngại, có người chép miệng: toàn là cô tú cậu cử mà nay phải đi bưng bê! nhưng biết làm sao, khi cả nước ai cũng như ai.

Khi các anh Sĩ Quan của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa bị gom vô các trại tập trung. Cũng là lúc chúng tôi cũng phải trở về trường. Sinh viên và Sĩ Quan là những người trí thức, coi như thành phần tiểu tư sản, cần được tẩy não (washing – brain), để hiểu được lập trường của giai cấp vô sản bần cố nông.

Thật sự ra, chính quyền mới chỉ muốn phô trương quyền lực, nhằm đoạ đày mọi người, vì thấy trong miền Nam nhởn nhơ quá. Họ lúc nào cũng muốn tạo ra không khí căng thẳng, bắt dân răm rắp tuân theo chính sách kiểm soát bao tử.

Ở địa phương, nhà nào cũng phải có người tham gia lao động.

Với danh nghĩa đoàn Thanh niên Cộng Sản, đảng Lao Động Động Sản. Họ dùng biểu tượng cái búa, cái liềm, thì phải có lao động chứ. Không cần biết có mang lại kết quả gì không, miễn là bắt mọi người phải, chấp hành nghiêm chỉnh mọi mệnh lệnh đề ra. Nếu chống đối sẽ bị ghép vào tội phản động.

Việc lao động đầu tiên của sinh viên Khoa Học Sàigon là đi quét rác. Bãi rác khổng lồ ở gần trường Khoa Học nằm đó từ bao lâu, chỉ nhấp nháy có vài hôm là tụi tôi dẹp sạch.

Đủ thứ tên gọi cho các loại lao động:

Lao động công ích là loại lao động nhỏ, làm vào ngày Chủ Nhật, thường bắt dân ở các tổ dân phố.

Lao động xã hội chủ nghĩa là những loại lao động lớn hơn dành cho sinh viên các trường đại học.

Chính sách cây gậy & củ cà rốt bắt đầu áp dụng triệt để. Thực phẩm và nhiên liệu để đốt đều được phân phối cho từng gia đình.

Mọi thứ đều vô quốc doanh. Không có buôn bán cá thể. Cái gì không chính thức thì gọi là chui. Mua chui, bán chui. Tụi tôi thì thào: nhưng đừng có yêu chui nhé. Bố mẹ mà biết thì có mà chui xuống lỗ.

Cha mẹ ở dưới quê có chăn nuôi và trồng trọt, cũng không thể mang gạo, thịt lên cho con đang học trên thành phố. Vì đó là buôn lậu (trái với thời VNCH, buôn lậu là những thứ như súng đạn và ma tuý).

Thế thì mọi người cùng chui! Hoá ra trong xã hội chủ nghĩa, con người biến thành sinh vật 4 chân. Vì nếu là người thì đi bằng hai chân.

Chúng tôi được chia ra từng nhóm gọi là tổ. Mỗi tổ sẽ cùng nhau thảo luận về chính trị và cùng đi lao động chung với nhau.

Chính những tổ này, đã gắn bó chúng tôi với bao nhiêu kỷ niệm.

Để chứng minh cho câu nói “dưới sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Sinh viên của tất cả các trường đại học miền Nam phải tham gia học chính trị và đi lao động.

Em tôi học đại học Phú Thọ đi phá rừng làm rẫy ở nông trường Phạm Văn Cội. Nơi đây trước kia là chiến trường của cả hai bên.

Em kể rằng còn rất nhiều mìn chưa nổ vẫn nằm rải rác trên mặt đất. Chuyện mìn nổ khi cuốc nhầm, người ta gọi bằng những chữ hồi đó “đến hẹn lại lên” chuyện thường ngày ở huyện.

Còn trường Khoa Học của chúng tôi thì năm đầu tiên đã đi lao động ở 3 nơi:

– Chi khoa Thủ Đức.
– Đào kênh Lê minh Xuân.
– Trồng nấm ở Long An, Mộc Hóa.

Hồi nào tới giờ, ở nhà chỉ thấy nấu cơm bằng nồi. Khi lao động ở khuôn viên chi khoa Thủ Đức, tôi mới biết cơm được nấu bằng những cái chảo thật to. Cây đũa bếp là những cái xẻng. Ở nhà toàn cậu ấm cô chiêu, thức ăn mẹ nấu toàn thứ ngon lành, còn bày đặt kén chọn. Tới khi đi lao động chỉ có muối hột, dưa gang muối và bí đỏ, chẳng chê chút nào! Cơm thì giới hạn, không phải muốn ăn bao nhiêu thì ăn.

Ngày xưa ai lá ngọc cành vàng
Ngày xưa ai quyền quý cao sang.

Bài hát nào đó sao quá đúng cho đám con gái tiểu thư, và những cậu học trò trói gà không chặt.

Gặp thời thế, thế thời phải thế.
Cũng đành nhắm mắt đưa chân
Thử xem con tạo xoay vần ra sao.

Tụi tôi thường rỉ tai nhau: ai làm sao, tôi làm vậy. Bọn họ làm bậy, tôi biết làm sao? Phải nín thở qua sông thôi. Từ từ rồi tính.

Cho tới bây giờ tôi cũng không hiểu khắc phục khó khăn như thế nào, mà mỗi tổ chỉ được phát cho mấy khối củi, cưa ra từ các thân cây to, vẫn chưa khô.Vậy mà đám con gái chân yếu tay mềm, liễu yếu đào tơ lại có thể đun nấu thành những bữa cơm nóng hổi kịp thời, cho đám con trai vác leng, vác cuốc sau khi lao động về, ăn những món cao lương mỹ vị ngày nào cũng như ngày nấy. Suốt hai tuần vũ như cẩn, là vẫn như cũ, chỉ có bí đỏ và dưa gang muối. Ăn nhiều quá, tới khi hết lao động, trở về nhà. Khi đi ngang chợ Bà Chiểu, thấy chất đầy bí đỏ, mấy anh chàng trên xe buýt che mắt lại, miệng rên rỉ: đừng nhìn tôi nữa bí ơi. Không ăn nổi nữa rồi!

Bắt lao động để xoá đi tác phong tiểu tư sản, phải đổ mồ hôi, sôi con mắt mới có được miếng cơm. Chúng tôi đã biết thế nào là xã hội chủ nghĩa, kể từ những ngày quê nhà đổi chủ chưa tới 100 ngày.

Đào xới lung tung, cũng chẳng mang lại kết quả gì, nhưng vẫn cứ rùm beng lên, như đó là tư tưởng siêu việt của đám cầm quyền lúc bấy giờ.

Đủ thứ tuyên truyền cho việc đào kênh, họ tưởng có thể cải tạo được thiên nhiên. Đào kênh hòng dẫn nước ngọt vào, rửa cho hết chất phèn, để thành đất canh tác trồng trọt sau này.

Tham vọng đội đá vá trời, dưới sức người sỏi đá chẳng thành cơm.

Bài hát con kênh xanh xanh, ngày nào cũng ra rả phát ra từ các máy phóng thanh bây giờ biến mất. Mọi thứ theo kiểu đầu voi đuôi chuột.

Sau một thời gian khuấy động bắt dân và sinh viên đi lao động, chẳng đi tới đâu. Phong trào lao động xẹp xuống, chuyển giao cho những thành phần chuyên nghiệp, đó là lực lượng Thanh niên xung phong. Họ dùng những người nghiện ngập đang bị giam cầm ở các nông trường và công trường, thay thế cho học sinh và dân chúng ở các phường khóm.

Hết lao động, mọi người phải học chính trị và tham gia sinh hoạt tổ. Gọi là thảo luận về những gì đã học. Chính trị viên chỉ là những người đi bộ đội lâu năm. Họ cũng chẳng có trình độ văn hóa, chỉ nói như cái máy. Dẫu có chất vấn thì họ cũng chỉ nói loanh quanh, theo họ:

Chủ nghĩa xã hội trải qua 3 giòng thác cách mạng:

Lao động hoá, cơ khí hóa, và điện khí hóa.

Các định nghĩa gọi là phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng xoay quanh: Hiện tượng & bản chất – Hồng & chuyên.

Vốn ngụy biện, nên mọi sai trái, tiêu cực, họ bảo đó chỉ là hiện tượng. Chứ bản chất không phải như thế (chúng tôi rỉ tai: còn tệ hơn thế nữa).

Vỏn vẹn cũng có bấy nhiêu đó, chẳng có gì là cao siêu. Nhưng họ cho là ghê gớm lắm.

Đối với họ, duy vật điều khiển mọi hành động, theo kiểu, khi đói thì đầu gối phải bò. Thói quen là do các điều kiện bên ngoài tạo nên, chứ không phải do di truyền. Họ đã cho vài con chuột nhịn đói rất lâu. Sau đó để một ngọn đèn pha cực sáng, có thức ăn bên dưới. Và một cái hang tối thui. Thả con chuột đói vào, nó sẽ qua bên phía đèn sáng, chứ không chui vào cái hang tối thui, vì nó biết trong đó sẽ không có thức ăn, như vậy nghĩa là chuột ở chỗ tối, không phải là do đặc tính di truyền của nòi giống. Như vậy dùng chính sách cây gậy & củ cà rốt là điều khiển được hết.

Chúng tôi chỉ im lặng ngồi nghe, chứ không muốn tranh luận với những kẻ điên rồ. Lòng dặn lòng phải thoát khỏi nơi đây.

Rồi các buổi học tập chính trị cũng dẹp luôn. Chính trị viên trở về chỗ của họ. Chẳng có chữ nào lọt vào tai, chúng tôi đang mơ về một phương trời khác, đầy ước vọng cho tương lai sau này.

Tôi nhớ mãi hình ảnh các thầy cô của tôi cũng bị học chính trị. Mọi người đều im lặng, để nghe (xem sao) mấy chính trị viên nói gì?

Họ quên rằng, toàn là những người có học vị thạc sĩ và tiến sĩ. Rất nhiều người tốt nghiệp từ những trường đại học danh tiếng trên thế giới. Trong phần học về triết, đâu có ai lạ gì chủ nghĩa duy vật biện chứng. Có điều nay họ là kẻ chiến thắng nên họ muốn nói sao thì nói. Thế thôi.

Nhưng chúng tôi không thể nào quen mắt, hình ảnh của một bà cán bộ đứng trước bảng đen, với cái áo ngắn cũn cỡn, và cái quần đen (như những bà bán hàng ngoài chợ) đưa lưng về phía thầy cô ngồi phía sau. Mặc dù cái áo không làm nên thày tu. Nhưng cách ăn mặc nhếch nhác của họ, cũng khiến mọi người, dù không nói ra, cũng thấy khó chịu trong lòng. Có một cái gì không tôn trọng mọi người trong lối ăn mặc như thế. Trước kia khi đứng trước mặt học trò, ai cũng ăn mặc đàng hoàng, đúng theo phong cách của một giảng sư đại học.

Những tiếng thở dài, nuốt lệ vào trong. Những nỗi buồn phải chôn tận đáy lòng. Từ thầy đến trò đều cảm thấy khó hòng sống chung với họ.

Dần dần chẳng còn nghe nói đến lao động hay chính trị nữa.

Mọi phong trào đều xẹp, không kèn không trống. Bây giờ chỉ còn học chuyên môn, lúc đầu họ cũng kèm xen kẽ một vài người của họ vào ban giảng huấn, cho ra vẻ cũng là tiến sĩ, phó tiến sĩ. Tuy nhiên có lẽ do không đủ kiến thức, nên phần nhiều vẫn là do các thầy cô giáo cũ, đảm nhiệm việc giảng dạy cho chúng tôi những ngày sau đó.

Học trò Khoa Học của chúng tôi nhờ vậy, khi trốn thoát qua xứ người sau này, vẫn theo học đại học dễ dàng.

Riêng cha Hoàng Quốc Trương lúc trước dạy chứng chỉ Động Vật II, chắc trở về tu viện, không tham gia việc đời nữa.

Chúng tôi lần lượt ra trường. Rất ít người được phân công, vì bị đưa đi rất xa, tiền lương không đủ sống. Có một điều trớ trêu là không phân công vì có lý lịch xấu, nhưng cũng không cấp bằng cho họ. Nhiều người chẳng hề có một tờ giấy nào, cho biết mình đã học xong đại học.

Thế là chấm dứt cuộc đời sinh viên, tức là không còn mỗi tháng được mua 13kg gạo theo giá nhà nước.

Sách vở ích gì cho buổi ấy,
Mười người đi học, chín người thôi.

Cho tới năm 1979 không một học sinh (cũ) nào của đại học Khoa Học còn ở lại trường. Sinh viên sau này gọi là sinh viên của đại học Tổng Hợp.

Chỉ một thời gian ngắn sau ngày 30 tháng Tư mọi người âm thầm kế hoạch trốn chạy. Thời gian đó Tàu Cộng bắt đầu gây ra chiến tranh biên giới phía Bắc, để trừng trị Việt Nam ăn cháo đá bát. Khi xưa hai đàn anh lớn là Nga Sô và Trung Cộng đã giúp súng đạn, thuốc men cho Cộng Sản VN nhưng khi giành được mục tiêu. Bọn chóp bu cầm quyền đã ngả theo đàn anh Nga, phớt lờ anh Tàu. Vì vậy Tàu Cộng phải cho VN một bài học.

Lúc trước ở miền Bắc có bài hát ca tụng tình hữu nghị của Việt Nam và Trung Cộng thân thiết. Hai nước như một sông liền sông, núi liền núi.

Bây giờ cả hai quay lưng lại với nhau, người ta bảo bây giờ thì mông liền mông, cùi chỏ huých cùi chỏ!

Năm 1979 thực phẩm vô cùng khan hiếm, nạn đói bắt đầu mấp mé ló dạng. Chính quyền CS cũng trả đũa lại, họ bắt tất cả Hoa Kiều phải hồi hương. Đám công an lợi dụng cơ hội, cho thu tiền mỗi đầu người từ 10 tới 15 lượng vàng, rồi cho những con tàu rất lớn (chứa tới 5 ngàn người) ra khơi. Gọi là đi bán chính thức. Sau vài chuyến trót lọt, khi biết bị lợi dụng. Chính phủ của các nước hảo tâm chuyên cứu người vượt biển đã phân biệt được, ghe của những người thực sự cần cứu là những ghe thật nhỏ, trang bị thô sơ. Khi được cứu, hầu như họ chẳng còn sống được bao nhiêu người. Trong khi tàu bán chính thức toàn người giàu có. Họ khiêng xuống tàu thức ăn ê hề, khi lên bờ thì có người vẫn còn ăn mặc như đi dự tiệc. Khi các con tàu vượt biên kiểu này bị từ chối. Cộng Sản VN dẹp luôn vụ bán chính thức.

Đám công an lúc nào cũng rình rập khắp nơi. Chuyện trốn chạy phải tuyệt đối giữ bí mật.

Gia đình nào cũng mong có một người thoát, mới mong cứu giúp gia đình. Vì đời sống càng ngày càng khó khăn. Nhất là qua ba lần đổi tiền, hầu như ai cũng trắng tay. Chưa kể những gia đình ngụy quân, ngụy quyền bị đuổi ra khỏi nhà, đi vùng kinh tế mới.

Sau khi học xong, những người có lý lịch xấu – chẳng hạn cha mẹ hay anh em còn trong trại cải tạo – thì chẳng bao giờ họ được phân công. Nhiều người phải về quê sinh sống, hoặc ra chợ trời buôn bán, sống qua ngày.

Tình cảnh của mọi gia đình đều bi đát như nhau. Thời gian trôi qua, cuộc sống tất bật lo cho cơm áo gạo tiền. Chúng tôi không còn gặp nhau.

Cho đến khi biết được website của đại học Khoa Học Sài Gòn hình thành. Đúng như các cụ thường nói “buồn ngủ gặp chiếu manh”.

Web đại học Khoa Học Sài Gòn như cơn mưa rào rơi khi nắng hạn. Nhờ trang web này, chúng tôi biết được tin tức thầy cô: ai còn ai mất.

– Tìm được bạn bè đã mất liên lạc từ lâu trong phần nhắn tin, tìm bạn
– Nơi đây bạn bè có thể tâm sự với nhau, bằng thơ, văn, nhạc, họa.
– Và chúng tôi cũng có cơ hội giúp bạn bè hay các thầy cô trong hoàn cảnh khó khăn.
– Trên mọi thứ đó, là những lần bạn bè cùng nhau du lịch khắp nơi.

Thật là hạnh phúc cho những người “lục thập nhị nhĩ thuận”.

Nếu người xưa bảo rằng: ngũ thập tri thiên mệnh. Khi mình 50 tuổi thì giàu hay nghèo, mệnh trời cho đã biết. Chẳng nên cố làm gì. Nhất là lúc đã lục thập. Nếu là năm hay nữ còn ở VN thì cũng đến tuổi về hưu. Còn ở hải ngoại thì cũng mấp mé.

Bắt đầu từ 2008 đã có một hội ngộ ở Nam California. Sau đó cứ từ từ tiếp diễn ở biết bao nhiêu nơi: Pháp, Mỹ, Canada, Úc, Việt Nam…

Bằng nhiều cách khác nhau, mọi người đã đến được bến bờ tự do. Họ đã phải đánh đổi rất nhiều, mới có được ngày hôm nay. Những người vượt thoát bằng tàu hay bằng đường bộ. Những mất mát chia lìa, những ngày vật lộn với cuộc sống nơi xứ lạ quê người. Tất cả đã chôn vùi trong quá khứ, những vết thương lòng đã đóng thành sẹo, ủ kín trong tâm hồn.

Hôm nay họ gặp nhau, khi tuổi đã về chiều. Mọi thứ đều xếp lại, quá khứ đã qua, tương lai chưa tới.

Những ngày tháng bươn chải, gây dựng lại cuộc đời nơi xứ lạ quê người với hai bàn tay trắng.

Qua rồi những đắng cay tủi cực. Và khi tuổi đã về chiều, ngộ được chân lý vô thường. Cũng chẳng còn bao lâu nữa, họ sẽ về địa chỉ cuối cùng của mỗi con người.

Nhờ website của trường đại học Khoa Học Sài Gòn, họ tìm đến nhau, để cùng vui đùa, như ngày nào cùng ở dưới mái trường Khoa Học năm xưa.

Tiếng lành đồn xa, dần dần càng đông những người cùng một thú vui: đam mê du lịch. Ngoài con gái, con trai của Khoa Học, nay họ dẫn theo dâu, rể, cháu, chắt. Bạn bè của Khoa Học cũng gia nhập luôn, gọi là thân hữu.

Đi thì nhiều lắm, nhưng khi về nhà, hỏi đã đi những chỗ nào. Ai cũng ú ớ, thì đúng thôi. Toàn là ông nội, ông ngoại, bà nội, bà ngoại. Có người đã lên chức cố, quên là lẽ tự nhiên. Họ chỉ cần biết gặp nhau để đùa giỡn, và đi để mà đi. Bỏ lại tất cả đám xì lô cố, tức là đám con cái cháu chắt ở nhà.

Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo.

Có người ví von: những người được sống ở hải ngoại hôm nay, là những người đẻ bọc điều. Kể ra cũng không cường điệu cho lắm.

Bởi vì chúng ta muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm.
Đã qua rồi những năm tháng khốn khổ ở quê nhà, vật lộn với miếng cơm manh áo.
Chẳng còn phập phồng bị đày đi vùng kinh tế mới.
Bài hát nào có câu “bây giờ còn nhớ hay quên”.

Tuổi Xuân của chúng ta đã qua. Nhưng mùa Thu của cuộc đời còn lại, vẫn còn nhiều lãng mạn, phải không các bạn.

Những người muôn năm cũ,
Bạn ở đâu bây giờ?
Hẹn nhau qua trang web
Rủ bạn bè đi chơi.
Cùng đùa vui ca hát.
Quên hết mọi chuyện đời.

PS: có người xúi dại, cứ cà credit card, chết là xù.

Hẹn gặp các bạn trong những chuyến viễn du tới.

Ngày 20/10/2016
LẠI THỊ MƠ (lớp D, khoa Sinh)

NO COMMENTS