Kim Dung – “Độc cô cầu bại”…

0
38

VĨNH BIỆT KIM DUNG, NHƯNG ÔNG LÀ NHÀ VĂN BẤT TỬ

Có lẽ Kim Dung là nhà văn được nhiều người Việt chúng ta mến mộ nhất. Những Lệnh Hồ Xung, Nhậm Doanh Doanh, Lão Ngoan Đồng, Trương Vô Kỵ, Triệu Mẫn, Thạch Phá Thiên Cẩu tạp chủng, Kiều Phong, Hư Trúc … có ảnh hưởng vô cùng sâu rộng đến tính cách, tâm hồn, thậm chí đến cả lời ăn tiếng nói của nhiều thế hệ người Việt.

Trước năm 1975, những tác phẩm của Kim Dung được đăng trên báo chí Sài Gòn qua bản dịch tuyệt vời của Hàn Giang Nhạn gần như ngay sau khi nó được đăng trên Minh Báo ở Hồng Kông.

Sau năm 1975, tác phẩm của Kim Dung bị cấm trong một thời gian khá dài, nhưng nhiều người vẫn có thể chuyền tay nhau đọc chui những cuốn chưa bị “Thanh Niên cờ đỏ” thu đốt.

Sau đó, hình như không còn cấm nữa, nhưng không có nhà xuất bản hay báo nào dám in hay đăng. Vào khoảng nửa đầu thập niên 1990, tôi làm tòa soạn báo Nông thôn ngày nay. Quyết tâm tìm một tác phẩm của Kim Dung để đăng báo. Thật may mắn, lúc ấy anh Đoàn Tuấn cùng làm ở báo có quen với chị Phạm Tú Châu, một nhà nghiên cứu kiêm dịch giả nổi tiếng. Chị Châu đã dịch tác phẩm Uyên Ương Đao của Kim Dung, tiểu thuyết này chưa hề in ở Việt Nam. Chúng tôi xin chị Châu cho đăng dài kỳ tiểu thuyết đó. Tôi là người biên tập và cảm thấy vô cùng sung sướng. Nói là biên tập nhưng bản dịch của chị Phạm Tú Châu hay và chặt chẽ đến mức hầu như không phải biên tập gì. Lần đầu tiên Kim Dung tái xuất ở Việt Nam là từ tiểu thuyết này. Báo in nhiều kỳ cho đến hết, cũng rất hồi hộp nhưng không thấy Ban Tư tưởng văn hóa nhắc nhở gì. Một thời gian sau đó các nhà xuất bản mới in lại Kim Dung, chẳng có ai bật đèn xanh đèn vàng gì cả. Cấm thì có lệnh nhưng bỏ cấm thì chẳng có cái lệnh nào.

Tôi đã đọc tất cả sách của Kim Dung, đọc đi đọc lại nhiều lần và mỗi lần đều như mới. Tôi cũng xem tất cả những bộ phim chuyển thể tác phẩm của Kim Dung, không trừ một phim nào.

Kim Dung tiên sinh vừa qua đời ở tuổi 94. Xin vĩnh biệt ông, nhưng ông là một nhà văn bất tử.

HOÀNG HẢI VÂN

KIM DUNG – ĐỘC CÔ CẦU BẠI

Tôi đến với Kim Dung khoảng năm 1962 hay 63 gì đó (7-8 tuổi), với bộ khởi đầu là Võ Lâm Ngũ Bá (sau này có ý kiến nói là Kim Dung giả nhưng xét về mạch các tác phẩm tiếp theo: Anh hùng Xạ điêu, Thần điêu Đại hiệp…thì rất hợp logique). Trước đó, tôi chỉ nghiền ngẫm Phong Kiếm Xuân Thu, Xuân Thu Oanh liệt, Thuyết Đường, Tây du ký, Tam quốc chí, Mạnh Lệ Quân.

Và, tôi bắt đầu chạy đua cùng người lớn theo sát feuilleton của ông trên nhật báo. Lúc đó, ba tôi, ký giả Quốc Ấn là chủ bút nhật báo nên mỗi chiều, ông mang cả xấp báo khoảng 30 tờ về, tôi và đứa em kế chia nhau đọc, khỏi tranh giành.

Mấy tác phẩm đầu của Kim Dung do Tiền Phong Từ Khánh Phụng dịch nhưng về sau Hàn Giang Nhạn nổi lên lấn lướt. Phải nói, ông dịch mà như Việt hóa, ngôn ngữ cực kỳ sống động, ví dụ điển hình là lời lẽ Đào Cốc lục tiên, Bao Bất Đồng, Vi Tiểu Bảo…Ông là người quen thân với ba tôi nên mỗi khi truyện in thành sách, ông sai con đem đến tận nhà tặng, tôi lại được dịp luyện lại từ đầu. Lại thêm chú Tàu già chủ NXB Đại Hưng trên đường Cao Thắng gần ngả tư Phan Đình Phùng, chuyên xuất bản cho Hàn Giang Nhạn, cũng là người quen thân của ba tôi, nên thỉnh thoảng tôi đi học ngang, ông kêu vào cho lựa một bộ đem về…

Trong các tác phẩm của Kim Dung, tôi say mê nhất là Cô gái Đồ Long, Thần Điêu Đại hiệp, Tiếu ngạo Giang hồ, Lộc Đỉnh ký.

Anh hùng Xạ điêu, Lục mạch Thần kiếm, Hiệp Khách hành cũng mê nhưng chỉ vừa vừa thôi, không đọc đi đọc lại nhiều lần. Bây giờ nhớ lại, ba nhân vật chính của ba bộ này đều khờ khờ ngu ngu như Quách Tĩnh, Thạch Phá Thiên hoặc dại gái quá cỡ như Đoàn Dự tôi không thích, một cách vô thức. Hoàng Dung láu cá tôi cũng không ưa. Dù sao trong Lục mạch Thần kiếm còn có Kiều Phong bù đắp.

Nếu hỏi, đến với Kim Dung sớm như vậy, từ năm 7 tuổi, có bị ảnh hưởng trong việc hình thành tính cách không, tôi khẳng định là có. Đó là sự phân biệt chính tà rõ rệt, là quan niệm về quân tử đại trượng phu, là chút triết lý Lão Trang qua Vương Trùng Dương, Xung Hư, Trương Tam Phong, là tình yêu thánh thiện của Dương Qua-Tiểu Long Nữ hoặc hồn nhiên tự đến chống cũng không được của Vô Kỵ-Triệu Minh…

Thấp thoáng trong những bộ truyện đầu “tà chính phân minh” này, hình ảnh những con người có tính cách “người thường”nhiều hơn là con người lý tưởng hóa chẳng hạn như Hoàng Dược Sư, Đoàn Chính Thuần, Đoàn Hoàng gia-Nhất Đăng.

Nhưng, phải tới Tiếu Ngạo giang hồ, Lộc đỉnh ký thì một xã hội thật ngoài đời và những con người rất bình thường tốt xấu xen lẫn mà hoàn cảnh mới có thể làm cho nó bộc lộ hết, xuất hiện rõ. Không còn những Quách Tĩnh tốt quá cỡ như kẻ khùng không có thật.

Một Ngụy quân tử Nhạc Bất Quần đáng kinh tởm, một Mộ Dung Phục đáng ghét khoác áo quân tử bụng dạ tiểu nhân, một Vi Tiểu Bảo xuất thân hèn hạ lại có những suy nghĩ và hành động rất có đạo lý và khôn ngoan, tính toán đâu ra đó và “tà chính bất khả phân”, lấy mục tiêu biện minh cho hành động nhưng từ trong thâm sâu là người có nghĩa có tình…

Hình tượng Vi Tiểu Bảo đã thấp thoáng ở Dương Qua nhưng phải đến Lộc Đỉnh Ký thì nghệ thuật xây dựng nhân vật cuả Kim Dung mới đạt cảnh giới tối cao: Dù có cường điệu điển hình hóa nhưng không cứng nhắc quân tử tàu, tách rời cuộc sống.

Dù những ngày đầu sau 75, nhiều bài báo, nhiều nghiên cứu cố gắng phê phán Kim Dung với một quan định luận nào đó nhưng tôi tin chắc sẽ không thành công. Và, thực tế đã chứng minh. Trương Vô Kỵ, Triệu Minh, Tạ Tốn, Dương Qua, Tiểu Long Nữ, Kiều Phong, Lệnh Hồ Xung vẫn hiên ngang với cuộc sống của mình, tiếp nhận thêm nhiều người đọc mới.

Tản mạn vài dòng tưởng nhớ Kim Dung

Paris, 30/10/2019
THẨM TUYÊN

Kim Dung và nỗi đau mất cha

Nhà văn Kim Dung có một người cha danh tiếng là Tra Thụ Huân. Gia tộc họ Tra vô cùng danh giá tại Triết Giang.Trong từ đường họ Tra còn treo ngự bút của Khang Hy hoàng đế. Họ Tra là một trong những gia tộc lớn nhất ở Giang Nam, có lịch sử nghìn năm từ những triều đại Đường, Tống… Năm 1924, Kim Dung ra đời, gia tộc đã suy vi nhưng còn 3600 mẫu đất, hơn 100 nông dân, các tiền trang. Trong nhà có 5 đại viện và hơn 90 căn phòng, ngoài ra còn có hoa viên lớn. Cha của Kim Dung tốt nghiệp Đại học Giáo hội, đại học Chấn Đán ở Thượng Hải. Ở quê nhà, Tra Thụ Huân thường ra tay cứu tế, làm nhiều điều nghĩa hiệp. Những năm cuối đời ông đã dành rất nhiều sức lực, của cải để xây dựng nghĩa trang, miếu thờ tổ tiên và cả trường học. Ông còn đem 1000 mẫu đất của gia đình để dựng “Nghĩa điền” chia ruộng cho các hộ dân làm đất cấy cày. Ông cũng tích cực cứu tế dân nghèo, giảm, miễn thuế cho điền nông. Tai quê nhà, ông còn xây trường tiểu học Long Đầu Các miễn phí cho trẻ nhỏ.
Một hình ảnh trong bộ hình 20.000 bức, về cách mạng văn hoá, mà nhiếp ảnh gia Lý Chấn Thịnh đã đánh liều mạng sống để giữ lại được cho đến ngày nay.

➥ Một hình ảnh trong bộ hình 20.000 bức, về cách mạng văn hoá, mà nhiếp ảnh gia Lý Chấn Thịnh đã đánh liều mạng sống để giữ lại được cho đến ngày nay.

Vào cách mạng ruộng đất tại Trung Quốc những năm 1950, ông bị quy địa chủ, song ở quê dân không ai đấu tố ông vì mang ơn sâu nặng. Cuối cùng, người ta gán cho ông bốn tội danh: Kháng lương (không chịu nộp lương thảo), chứa chấp thổ phỉ, âm mưu sát hại cán bộ, bịa đặt phá hoại, tạo tin đồn thất thiệt. Tra Thụ Huân bị kết tội là địa chủ bất hợp pháp, phải chịu xử bắn.

Ngày bị xử bắn, ông không được thay quần áo, không được uống rượu, ăn cơm, bị trói cổ đưa đến sân vui chơi của trường tiểu học Long Đầu Các. Thụ Huân bị bốn người đồng thời dùng súng bắn đến khi ngã gục xuống. Sau khi ông chết, mộ phần cũng không được để lại tên tuổi.

Khi cha chết, Kim Dung đang làm việc tại Hong Kong. Vô cùng đau xót. Ông khóc ba ngày ba đêm và đau đớn vật vã trong nửa năm. Kết cục, ông chỉ còn biết dồn nỗi đau vào ngòi bút. Chúng ta có thể thấy tất cả các đại hiệp trong tiểu thuyết của Kim Dung mang hình bóng của ông ở khía cạnh mất cha, hay đang đi tìm cha như Dương Quá, Tiêu Phong, Đoàn Dự, Hư Trúc, Thạch Phá Thiên…
Kim Dung và nỗi đau mất cha

Và vì vậy, các thiếu niên anh hùng này buộc phải tự lập, có nhiều nghị lực để vượt lên những gian khổ cuộc đời và trong lòng họ luôn có nhiều tâm sự sâu kín. Thêm một lý do nữa, việc có một mối quan hệ không suôn sẻ với người cha của mình cũng thúc đẩy các mâu thuẫn, đặt ra cho nhân vật chính nhiều nghịch cảnh, buộc họ phải lựa chọn. Có người sùng kính, ngưỡng mộ chỉ mong nối chí cha, có người lại oán hận, căm thù người cha ruột như cừu địch. Điều đó giúp Kim Dung thả sức sáng tạo cốt truyện và tạo ra những điểm cao trào, kịch tính. Từ đó, các đại hiệp của Kim Dung thành anh hùng.

Hôm nay, Kim Dung đang đoàn tụ với cha già của ông nơi chín suối, nhưng những nhân vật chính của ông vẫn đang tiếp tục cuộc hành trình tìm cha. Dương Quá tìm cha, Tiêu Phong tìm cha, Đoàn Dự tìm cha, Hư Trúc tìm cha, Thạch Phá Thiên tìm cha, Trương Vô Kỵ tìm nghĩa phụ… Tất cả đều đang tha thiết đi tìm cha.

 

NGUYỄN THỊ BÍCH HẬU

‘Đại hiệp’ Kim Dung và nỗi đau đáu về người con trai tự tử

Kim Dung đã tìm đến Kinh Phật để mong lý giải nguyên nhân cậu con trai Tra Truyền Hiệp tự tìm đến cái chết khi chưa tròn 20 tuổi.

Kim Dung, tên thật Tra Lương Dung, là nhà văn đương đại nổi tiếng Trung Quốc. Ông được đông đảo độc giả hâm mộ bởi hàng loạt tiểu thuyết võ hiệp đặc sắc như Thiên long bát bộ, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữ, Lộc Đỉnh ký, Tiếu ngạo giang hồ… Kim Dung được mệnh danh là “Thái Sơn, Bắc Đẩu” trong giới tác giả viết tiểu thuyết võ hiệp.

Nhiều năm qua, Kim Dung hiếm khi công khai tham gia sự kiện mà dành phần lớn thời gian ở nhà. Theo Sina, sức khỏe nhà văn 92 tuổi vẫn ổn định. Hôm 27/3, ông tham gia buổi tọa đàm “Kim Dung võ hiệp và Giấc mơ Trung Quốc”, diễn ra ở Bắc Kinh. Đi cùng Kim Dung còn có các cháu của ông. Trong hoạt động, ban tổ chức chia sẻ ảnh Kim Dung và con trai thứ Tra Truyền Thích. Bức ảnh dấy lên tò mò của người hâm mộ về các con của nhà văn – họ làm nghề gì và có ai nối nghiệp bố?

Kim Dung có bốn con, hai trai hai gái. Con trai lớn Tra Truyền Hiệp, con trai thứ Tra Truyền Thích và hai con gái là Tra Truyền Thi, Tra Truyền Nột. Cả bốn người đều là con của Kim Dung với người vợ thứ hai Chu Mai (Kim Dung có ba đời vợ, lần lượt là Đỗ Dã Phân, Chu Mai và Lâm Nhạc Di).

Tra Truyền Hiệp là người thừa hưởng ở bố nhiều nhất khả năng văn chương. Kim Dung dạy Truyền Hiệp Tam Tự Kinh từ khi cậu bé còn bi bô học nói. Bốn tuổi, Truyền Hiệp đã thuộc lòng Tam Tự Kinh, sáu tuổi đã thuộc Tăng Quảng Hiền Văn. Mọi người đều gọi cậu là tiểu thần đồng. Được gia đình hun đúc, Tra Truyền Hiệp yêu thích tiểu thuyết từ thuở ấu thơ. Năm 1965, tiểu thuyết Hiệp khách hành đăng trên tờ Minh Báo của Hong Kong (tờ báo do Kim Dung sáng lập). Truyện có nhiều đoạn nói về tình yêu con của vợ chồng Thạch Thanh. Câu chuyện cảm động, gần gũi đó được viết từ chính lòng thương vô bờ của vợ chồng Kim Dung với Truyền Hiệp.

Tra Truyền Hiệp say mê Hiệp khách hành, đến mức có một lần cậu đang đọc tiểu thuyết dưới mái hiên tí tách mưa rơi, cha mang món ngon đến trước mặt rồi gọi con nhưng cậu vẫn không rời mắt khỏi sách. Năm 14 tuổi, Truyền Hiệp viết một bài văn nói rằng đời người là bể khổ, chẳng có ý nghĩa gì và tỏ ý muốn được giải thoát. Có người sau khi đọc bài văn thì chột dạ, khuyên Kim Dung nên ngăn cản cậu bé khỏi những suy nghĩ này. Song nhà văn bảo con trai đúng. Ông khen Truyền Hiệp sớm nhận biết, tư tưởng sâu sắc.

Kim Dung không thể ngờ được rằng, cũng vì “sớm nhận biết”, Truyền Hiệp về cõi vĩnh hằng khi còn ở tuổi thanh xuân. Tháng 10/1976, Tra Truyền Hiệp tự tử, sau khi cãi vã với bạn gái qua điện thoại. Lúc đó, cậu chưa đầy 20 tuổi và đang là sinh viên năm nhất Đại học Columbia (Mỹ).

Lúc bấy giờ, có hai khả năng được đưa ra về lý do tự tử của Tra Truyền Hiệp.

Lý do thứ nhất liên quan tới việc Kim Dung và Chu Mai ly hôn. Ở Mỹ, Truyền Hiệp biết quan hệ giữa bố mẹ rạn nứt, sắp sửa chia tay nên rất buồn. Anh nhiều lần khuyên bố mẹ hàn gắn nhưng không thể. Gia đình tan vỡ là cú đòn mạnh giáng vào anh. Để rồi trong phút chán nản, cậu sinh viên nghĩ đến sự giải thoát.

Lý do thứ hai được đưa ra có liên quan tới tình cảm cá nhân của Tra Truyền Hiệp. Lúc đó, Truyền Hiệp yêu một cô gái sống ở San Francisco. Đôi tình nhân trẻ mâu thuẫn và Truyền Hiệp tự tử vì tình yêu không tốt đẹp.

Cái chết của con trai là nỗi đau không bao giờ bù đắp nổi đối với Kim Dung. Nhà văn từng hồi ức về quãng thời gian u ám sau khi con qua đời: “Sau khi nghe tin con mất ở Mỹ tôi đau đớn và u sầu. Nhưng hôm đó tôi có bài viết quan trọng cho báo. Vừa viết vừa rơi nước mắt. Lòng quặn thắt nhưng tôi vẫn phải viết”. Tiếp đến, ông đi Mỹ đưa thi thể con về Hong Kong mai táng.

Thời gian đó, Kim Dung từng muốn chết theo con. Một câu hỏi lớn xâm chiếm tâm hồn ông: “Tại sao con tự tử, tại sao con bỗng nhiên từ bỏ sinh mệnh. Tôi muốn tới cõi âm gặp Truyền Hiệp, muốn con giải đáp câu hỏi này”.

Con trai tự tử cũng là lý do trực tiếp khiến nhà văn theo tín ngưỡng Phật giáo. Sau khi con qua đời, ông bắt đầu nghiền ngẫm Kinh Phật, từ sách Phật giáo tìm câu trả lời cho cuộc đời.

Năm 1991, Kim Dung bán tờ Minh Báo cho Vu Phẩm Hải. Không ít người cho rằng ông trao đứa con tinh thần của mình cho Vu Phẩm Hải vì người này có ngoại hình giống Tra Truyền Hiệp. Kim Dung nói rằng: “Về lý tính, tôi không nghĩ như thế. Nhưng Vu Phẩm Hải sinh cùng năm với con trai lớn của tôi, đều tuổi Khỉ. Tướng mạo đúng là hơi giống nhau. Tình thân tự nhiên trỗi dậy trong tiềm thức. Cũng có thể là như vậy”.

Ba người con còn lại của Kim Dung nay đều đã là cha, là mẹ và không ai theo nghiệp văn chương. Con gái lớn Tra Truyền Thi tốt nghiệp Đại học York (Canada) với thành tích xuất sắc. Cô kết hôn năm 1988, cùng phó tổng biên tập một tờ báo của Hong Kong. Con gái thứ Tra Truyền Nột là một họa sĩ tài năng và rất tích cực làm từ thiện. Một số người thân cận với Kim Dung nói rằng, Tra Truyền Nột là cảm hứng để Kim Dung xây dựng hình tượng Tiểu Long Nữ.

Con trai thứ Tra Truyền Thích có vẻ ngoài rất giống Kim Dung. Hồi nhỏ anh không mấy nghe lời cha mẹ, học hành cũng không có thành tích gì nổi bật. Sau này, Kim Dung cho con du học ở Anh, cậu chọn ngành kế toán vì cho rằng “kế toán chỉ cần nhập dữ liệu vào các ô cố định là ra đáp số, thích hợp nhất cho những người lười”. Tốt nghiệp đại học trở về Hong Kong, Truyền Thích về làm phó giám đốc ở nhà xuất bản của Kim Dung, giúp cha quản lý công việc về xuất bản.

HẢI LAN

Kim Dung (sinh ngày 6 tháng 2 năm 1924 – mất ngày 30 tháng 10 năm 2018) là một trong những nhà văn ảnh hưởng nhất của văn học Trung Quốc hiện đại. Ông còn là người đồng sáng lập của nhật báo Hồng Kông Minh Báo, ra đời năm 1959 và là tổng biên tập đầu tiên của tờ báo này.

Từ năm 1955 đến 1972 ông đã viết tổng cộng 15 cuốn tiểu thuyết. Sự nổi tiếng của những bộ truyện đó khiến ông được coi là người viết tiểu thuyết võ hiệp thành công nhất. 300 triệu bản in (chưa tính một lượng rất lớn những bản lậu) đã đến tay độc giả của Trung Hoa đại lục, Hồng Kông, Đài Loan, châu Á và đã được dịch ra các thứ tiếng Việt, Hàn, Nhật, Thái, Anh, Pháp, Indonesia. Tác phẩm của ông đã được chuyển thể thành phim truyền hình, trò chơi điện tử.

Tên ông được đặt cho tiểu hành tinh 10930 Jinyong (1998 CR2), là tiểu hành tinh được tìm ra trùng với ngày sinh âm lịch của ông (6 tháng 2). Tháng 2 năm 2006, ông được độc giả bầu là nhà văn được yêu thích nhất Trung Quốc. Ông là người rất yêu thiên nhiên yêu động vật, đặc biệt ông có nuôi một con chó Trùng Khánh rất quý

Kim Dung tên thật là Tra Lương Dung (phồn thể: 查良鏞, giản thể: 查良镛, bính âm: Cha Leung Yung), sinh vào ngày 6 tháng 2 năm 1924 tại trấn Viên Hoa, huyện Hải Ninh, địa cấp thị Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, trong một gia tộc khoa bảng danh giá. . Ông nội là Tra Văn Thanh làm tri huyện Đan Dương ở tỉnh Giang Tô. Tra Văn Thanh về sau từ chức, đến đời con là Tra Xu Khanh bắt đầu sa sút; Tra Xu Khanh theo nghề buôn, sau sinh 9 đứa con, Kim Dung là con thứ hai.

Thuở nhỏ Kim Dung thông minh, lanh lợi, nghịch nhưng không đến nỗi quậy phá. Ông yêu thiên nhiên, thích nghe kể chuyện thần thoại, truyền thuyết, nhất là về những ngọn triều trên sông Tiền Đường. Đặc biệt ông rất mê đọc sách. Dòng họ Kim Dung có một nhà để sách gọi là “Tra thị tàng thư” nổi tiếng khắp vùng Chiết Tây, chứa rất nhiều sách cổ, những cuốn sách này làm bạn với ông từ rất bé.[cần dẫn nguồn]

Sáu tuổi, ông vào học tiểu học ở quê Hải Ninh. Ông rất chăm học, lại thêm mê đọc sách nên trở thành một học sinh giỏi của lớp. Thầy dạy văn cho ông lúc bé có Trần Vị Đông, là người rất thương yêu và tin tưởng Kim Dung, đă cùng ông biên tập tờ báo lớp. Một số bài làm văn của Kim Dung, nhờ sự giới thiệu của thầy Đông đă được đăng lên Đông Nam nhật báo, tờ báo nổi tiếng nhất Trung Quốc bấy giờ.[cần dẫn nguồn]

Năm lên tám tuổi, ông lần đầu đọc tiểu thuyết võ hiệp, khi đọc đến bộ truyện Hoàng Giang nữ hiệp của Cố Minh Đạo, cảm thấy rất say mê, từ đó thường sưu tầm tiểu thuyết thể loại này.[cần dẫn nguồn]

Năm 13 tuổi, xảy ra sự biến Lư Câu Kiều, Kim Dung được gửi đến học trường trung học Gia Hưng ở phía Đông tỉnh Chiết Giang. Tuy xa nhà nhưng cuộc sống của ông cũng không khác mấy, ngoài đi học vẫn chúi đầu đọc sách, và vẫn đứng đầu lớp. Một hôm nhân dịp về thăm nhà, ông khoe gia đình cuốn sách Dành cho người thi vào sơ trung, một cuốn cẩm nang luyện thi, có thể coi là cuốn sách đầu tiên của ông, viết năm 15 tuổi và được nhà sách chính quy xuất bản. Đến khi lên bậc Cao trung, Kim Dung lại soạn Hướng dẫn thi vào cao trung. Hai cuốn sách in ra bán rất chạy, đem lại cho ông khoảng nhuận bút hậu hĩnh.[cần dẫn nguồn]

Năm 16 tuổi, ông viết truyện trào phúng Cuộc du hành của Alice có ý châm biếm ngài chủ nhiệm ban huấn đạo, người này tức giận, liền ép hiệu trưởng phải đuổi học ông. Cuộc du hành của Alice tuy đem lại tai hại, nhưng đã cho thấy tài tưởng tượng, cũng như tinh thần phản kháng của Kim Dung, mà sau này thể hiện rất rõ trên các tác phẩm. Ông lại chuyển đến học trường Cù Châu. Tại trường này có những quy định rất bất công với học trò, học sinh không được quyền phê bình thầy giáo, nhưng thầy giáo có quyền lăng nhục học sinh. Năm thứ hai tại trường, ông viết bài Một sự ngông cuồng trẻ con đăng lên Đông Nam nhật báo. Bài báo làm chấn động dư luận trong trường, được giới học sinh tranh nhau đọc. Ban giám hiệu trường Cù Châu đành phải bãi bỏ những quy định nọ. Không những vậy, một ký giả của Đông Nam nhật báo là Trần Hướng Bình do hâm mộ tác giả bài báo, đã lặn lội tìm đến trường học để thỉnh giáo, mà không biết tác giả chỉ là một học sinh.[cần dẫn nguồn]

Năm 1941, chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, trường Cù Châu phải di dời, ban giám hiệu quyết định cho học sinh lớp cuối tốt nghiệp sớm để bớt đi gánh nặng. Kim Dung cũng nằm trong số đó. Sau ông thi vào học Luật quốc tế tại học viện chính trị Trung ương ở Trùng Khánh. Thi đậu, nhưng để đến được trường phải trải qua nhiều ngày đi bộ.[cần dẫn nguồn]

Tại học viện chính trị Trung ương, Kim Dung vẫn học rất giỏi, cuối năm nhất ông được tặng phần thưởng cho sinh viên xuất sắc nhất. Thời kỳ này, ông ngoài tham gia viết bình luận chính trị trên các báo, còn bắt tay vào làm cuốn Anh – Hán tự điển và dịch một phần Kinh Thi sang tiếng Anh, hai công trình này về sau dở dang. Ông học lên năm thứ ba thì tại trường bắt đầu nổi lên các cuộc bạo loạn chính trị. Có lần viết thư tố cáo một vụ bê bối trong trường, Kim Dung lần thứ hai trong đời bị đuổi học, năm 19 tuổi.[cần dẫn nguồn]

Sau ông xin làm việc tại Thư viện trung ương. Ở chung với sách, tri thức nâng cao lên rất nhiều. Ngoài đọc sách sử học, khoa học và những tiểu thuyết võ hiệp đương thời, ông còn đọc những cuốn như Ivanhoe của Walter Scott, Ba người lính ngự lâm, Bá tước Monte-Cristo của Alexandre Dumas (cha), những truyện này đã ảnh hưởng đến văn phong của ông. Tại đây ông bắt đầu nảy sinh ý định sáng tác truyện võ hiệp. Ông cũng sáng lập ra một tờ báo lấy tên Thái Bình dương tạp chí, nhưng chỉ ra được một số đầu, số thứ 2 nhà xuất bản không chịu in, tờ báo đầu tiên của ông xem như thất bại.[cần dẫn nguồn]

Năm 1944, ông đến làm việc cho một nông trường ở Tương Tây. Nơi này rất tịch mịch hẻo lánh, đến năm 1946, không chịu nổi ông xin thôi việc, người chủ nông trường không cản được, tiễn ông bằng một bữa thịnh soạn. Mùa hạ năm đó, ông về lại quê cũ ở Hải Ninh, cha mẹ nghe tin ông bị đuổi học, rất buồn. Điều ấy khiến ông quyết tâm ra đi lập nghiệp.[cần dẫn nguồn]

Năm 1946 từ biệt gia đình, ông về Hàng Châu làm phóng viên cho tờ Đông Nam nhật báo theo lời giới thiệu của Trần Hướng Bình, người ngày xưa đã tìm đến trường ông. Ông làm việc rất tốt, tỏ ra có tài thiên phú về viết báo. Năm sau, theo lời mời của tạp chí Thời dữ triều, ông thôi việc ở Đông Nam nhật báo, sang Thượng Hải tiếp tục nghề viết hay dịch thuật từ máy Radio. Chẳng bao lâu ông lại rời toà soạn Thời dữ triều, xin vào làm phiên dịch của tờ Đại công báo. Lúc này anh trai của Kim Dung là Tra Lương Giám đang làm giáo sư ở học viện Pháp lý thuộc đại học Đông Ngô gần đó, ông liền xin vào học tiếp về luật quốc tế.[cần dẫn nguồn]

Năm 1948, tờ Đại công báo ra phụ bản tại Hồng Kông, ông được cử sang làm việc ở đó, dịch tin quốc tế. Trước khi ra đi vài ngày, ông chạy đến nhà họ Đỗ để ngỏ lời cầu hôn cô con gái 18 tuổi, được chấp nhận. Hôn lễ tổ chức trang trọng tại Thượng Hải, người vợ đầu tiên Đỗ Trị Phân của ông rất xinh đẹp.[cần dẫn nguồn]

Năm 1950, trong cuộc Cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, gia đình ông bị quy thành phần địa chủ, cha ông bị đấu tố, từ đó ông mất liên lạc với gia đình. Trong lúc này, vợ ông không chịu nổi cuộc sống ở Hồng Kông, trở về gia đình bên mẹ, không chịu về nhà chồng nữa. Năm 1951 họ quyết định ly hôn.[cần dẫn nguồn]

Năm 1952, ông sang làm việc cho tờ Tân văn báo, phụ trách mục Chuyện trà buổi chiều, chuyên mục này giúp ông phát huy khả năng viết văn của mình hơn, ông rất thích, một phần vì khán giả cũng rất thích. Ông còn viết phê bình điện ảnh. Từ đó dần đi sâu vào lĩnh vực này. Từ 1953, rời Tân Văn báo, bắt tay vào viết một số kịch bản phim như Lan hoa hoa, Tuyệt đại giai nhân, Tam luyến… dưới bút danh Lâm Hoan. Những kịch bản này dựng lên được các diễn viên nổi tiếng thời bấy giờ như Hạ Mộng, Thạch Tuệ, Trần Tứ Tứ… diễn xuất. Được nhiều thành công đáng kể.[cần dẫn nguồn]

Từ khi mới vào làm cho Tân Văn Báo, ông quen thân với La Phù và Lương Vũ Sinh. Đến năm 1955, được hai người ủng hộ và giúp đỡ, ông viết truyện võ hiệp đầu tay là Thư kiếm ân cừu lục, đăng hàng ngày trên Hương Cảng tân báo, bút danh Kim Dung cũng xuất hiện từ đây. Hai chữ “Kim Dung” 金庸 là chiết tự từ chữ “Dung” 鏞, tên thật của ông, nghĩa là “cái chuông lớn”. Thư kiếm ân cừu lục ra đời, tên Kim Dung được chú ý đến, dần dần, ông cùng Lương Vũ Sinh được xem như hai người khai tông ra Tân phái của tiểu thuyết võ hiệp. Ông viết tiếp bộ Bích huyết kiếm được hoan nghênh nhiệt liệt, từ đó chuyên tâm vào viết tiểu thuyết võ hiệp và làm báo, không hoạt động điện ảnh nữa.[cần dẫn nguồn]

Năm 1959, cùng với bạn học phổ thông Trầm Bảo Tân, ông lập ra Minh Báo. Ông vừa viết tiểu thuyết, vừa viết các bài xă luận. Qua những bài xă luận của ông, Minh Báo càng ngày được biết đến và là một trong những tờ báo được đánh giá cao nhất. Không như một số tờ báo do ông sáng lập khác, Minh Báo theo ông đến khi kết thúc sự nghiệp.[cần dẫn nguồn]

Năm 1972 sau khi viết cuốn tiểu thuyết cuối cùng, ông đă chính thức nghỉ hưu và dành những năm sau đó biên tập, chỉnh sửa các tác phẩm văn học của mình. Lần hoàn chỉnh đầu tiên là vào năm 1979. Lúc đó, các tiểu thuyết võ hiệp của ông đă được nhiều độc giả biết điến. Các tác phẩm đã được chuyển thể thành phim truyền hình. Năm sau, ông tham gia giới chính trị Hồng Kông. Ông là thành viên của ủy ban phác thảo Đạo luật cơ bản Hồng Kông. Ông cũng là thành viên của Ủy ban chuẩn bị giám sát sự chuyển giao của Hồng Kông về chính phủ Trung Quốc.

Vào tháng 10 năm 1976, sau cái chết đột ngột của con trai trưởng của mình, Kim Dung đã quyết định tìm hiểu nhiều vào các triết lý của tôn giáo. Kết quả là ông tự mình quy y Phật giáo hai năm sau đó.

Năm 1993, ông thôi làm chức chủ bút, bán tất cả các cổ phần trong Minh Báo.[cần dẫn nguồn]

Năm 2006, ông xuất bản cuốn tản văn đầu tiên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2018, nhà văn Kim Dung qua đời ở tuổi 94 tại Bệnh viện Hong Kong sau một thời gian dài chiến đấu với bệnh tật.

Ngoài các tiểu thuyết võ hiệp, ông còn viết các truyện lịch sử Trung Quốc. Ông đã được trao tặng nhiều huân chương danh dự.

Kim Dung đã được trao tặng huân chương OBE của Vương Quốc Anh năm 1981, và Bắc đẩu bội tinh năm 1982, Commandeur de l’Ordre des Arts et des Lettres năm 2004 của chính phủ Pháp.

Ông cũng là giáo sư danh dự của nhiều trường đại học như Bắc Kinh, Chiết Giang, Nam Khai, Hồng Kông, British Columbia cũng như là tiến sĩ danh dự của đại học Cambridge.

Tháng 3 năm 2017, Bảo tàng Di sản Hong Kong đã mở cuộc triển làm các tranh ảnh có liên quan đến các tác phẩm của Kim Dung.

Tác phẩm
Kim Dung viết tổng cộng 15 truyện trong đó 1 truyện ngắn và 14 tiểu thuyết. Hầu hết các tiểu thuyết đều được xuất bản trên các nhật báo.

– Thư kiếm ân cừu lục (1955)
– Bích huyết kiếm (1956)
– Anh hùng xạ điêu (1957)
– Thần điêu hiệp lữ (1959)
– Tuyết sơn phi hồ (1959)
– Phi hồ ngoại truyện (1960)
– Bạch mã khiếu tây phong (1961)
– Uyên Ương đao (1961)
– Ỷ Thiên Đồ Long ký (1961)
– Liên thành quyết (1963)
– Thiên long bát bộ (1963)
– Hiệp khách hành (1965)
– Tiếu ngạo giang hồ (1967)
– Lộc Đỉnh ký (1969-1972)
– Việt nữ kiếm (truyện ngắn, 1970)

Một số tác phẩm của Kim Dung có những nhân vật và chi tiết bắc cầu với nhau, tuy nhiên đều có thể đọc độc lập.

Chùm truyện có thể nói là nổi tiếng nhất, và cũng có nhiều chi tiết liên kết chặt nhất, là Xạ điêu tam bộ khúc (射鵰三部曲), gồm ba tác phẩm Xạ điêu anh hùng truyện (cuối đời Tống), Thần điêu hiệp lữ (thời Mông Cổ đánh Tống), Ỷ thiên Đồ long ký (thời nhà Minh nổi lên đánh Mông Cổ).

Thiên Long bát bộ (thời Tống) lấy bối cảnh trước Xạ điêu anh hùng truyện, nhưng nội dung câu chuyện vốn là độc lập. Sau này, Kim Dung sửa chữa lại vài chi tiết trong Xạ điêu anh hùng truyện để bắc cầu với Thiên Long bát bộ.

Vài nhân vật của Bích huyết kiếm (thời Minh mạt, Mãn Châu vào đánh) xuất hiện trong Lộc Đỉnh ký (đời Khang Hy).

Vài nhân vật trong Thư kiếm ân cừu lục xuất hiện trong Phi hồ ngoại truyện, tác phẩm này lại kể lai lịch, hành trạng của Hồ Phỉ và một số nhân vật khác của Tuyết sơn phi hồ (các truyện này lấy bối cảnh đời Càn Long).

Các truyện khác của Kim Dung không liên quan với nhau và cũng không có bối cảnh lịch sử cụ thể, trừ Việt nữ kiếm xảy ra thời Xuân Hồng Thu

Wikipedia

 

NO COMMENTS