Tôi sống gần 20 năm ở Sài Gòn, tất nhiên cũng biết lắm chuyện để kể, những câu chuyện nghe để vui, để yêu đời và yêu Sài Gòn thì còn nhiều, nhiều lắm. Sài Gòn rộng, rộng lắm, nên chuyện ở Sài Gòn người ta hay kêu là: chuyện nhỏ.

1.

Đó là một con hẻm khá rộng rãi ở giữa nhưng hai đầu thì nhỏ xíu, chỉ chạy lọt chiếc xe máy, hẻm nối hai trục đường chính ở quận 3.

Trong hẻm nhà cửa san sát, nhà mới xây cao 3~4 tầng cũng nhiều mà nhà cũ, mái tole gác gỗ cũng sin sít, có mấy nhà rất cũ, nhìn kiểu là biết nó đã năm bảy chục tuổi đời. Nhiều nhà dùng phía trước để buôn bán nhỏ, bán đồ ăn uống hoặc tạp hóa, nhiều nhà mở tiệm gội đầu hoặc sang hơn chút thì đặt biển công ty mà chẳng có mấy nhân viên. Dân cư trong hẻm hầu hết đều biết nhau, cũng có một vài người mới dọn tới hoặc thuê nhà trong hẻm nhưng họ nhanh chóng làm quen với cư dân hẻm.

Bà chủ nhà trọ của tôi được gọi là cư dân lâu đời nhất của hẻm, hơn 60 năm. Bà là người cất nhà đầu tiên trên đất này. Bà kể, lúc bà vô Sài Gòn năm 16 tuổi, cả nhà bà đi trên một cái ghe. Lúc đó hẻm này, từ đầu đến cuối, là một con rạch rộng và sâu, bơi chừng vài chục sải mới sang bờ, tuy thông với nhiều rạch khác nhưng nước ở rạch này lại trong veo, đáy toàn cát. Bờ bên này, chỗ nhà trọ tôi ở, là một cái bến thuyền tấp nập suốt ngày đêm. Cha của bà đã dựng cái chòi đầu tiên trên bến, đúng chính chỗ căn nhà bây giờ, lúc đó ban đêm gió từ những con rạch thổi lồng lộng đến nỗi muốn cuốn bay mọi thứ.

Có nhiều sông rạch, nhiều đầm lác, nhiều rừng dừa nước đã biến mất, nhường chỗ cho phố xá và những con hẻm đầy nhà, đầy người, ở Sài Gòn.

2.

Ở một showroom sang trọng của một hãng xe hơi nổi tiếng mà giá của một chiếc xe nằm ngoài khả năng đếm của nhiều người, vào một buổi trưa trời nắng gắt bên ngoài nhưng bên trong vách kính của cửa hàng thì mát lạnh.

Anh nhân viên bán hàng tuổi còn rất trẻ, mặc đồ vest với cà vạt và dày da bóng lộn đang ngồi xem tivi.

Có một ông lão đi bộ ngoài đường, dừng lại rồi mở cửa đi vào showroom. Trông ông có vẻ không được khá giả lắm, tuy cũng vận áo sơ mi ngắn tay cũ và một chiếc quần khaki đã ngả màu. Ông lão bước vào, đảo mắt nhìn một lượt rồi chắp tay sau lưng đi đến những chiếc xe đang được trưng bày sáng trưng và bắt đầu coi coi ngó ngó. Anh nhân viên bán hàng bật dậy đi theo ông lão, anh đi nhẹ nhàng và tỏ vẻ lịch sự. Anh gọi ông lão là ngoại. Ngoại ơi, ngoại à. Mỗi lần ông lão dừng lại ở một chi tiết anh bán hàng lại đề nghị được cho ông xem rõ hơn, anh mở cửa trước, cửa sau, mở nắp capo để cho ông lão xem. Khi ông lão tỏ ý thắc mắc về một chi tiết nào đó thì anh lại nhẹ nhàng giải thích, ông  già cứ gật gù lắng nghe nhưng có vẻ không hiểu mấy.

Đi một hồi cũng mỏi, anh bán hàng mời ông lão lại chỗ sofa có cái bàn kiếng sạch bóng và mời ông dùng café, loại café đá pha sẵn thôi. Mãi sau ông già nói với anh: “qua thấy chỗ nầy bán xe hơi sang trọng quá, lại có máy lạnh nên qua vô xem chơi, chớ cái xe nầy cả dòng họ qua gom tiền lại cũng mua không nổi.” Anh nhân viên vẫn rất lịch sự: “dạ con biết, sẵn ngoại vô chơi thì con giới thiệu luôn để ngoại coi xe, đâu phải ai vô coi xe cũng mua đâu ngoại.” Anh cười, coi bộ hiền khô.

3.

Một góc ngã tư, giao lộ giữa hay con đường thuộc loại đông nhất nhì Sài Gòn, nơi thường xuyên bị kẹt xe, nhất là vào giờ cao điểm.

Bên cảnh sát giao thông phân công hai anh sĩ quan đến trực ở ngã tư này để giải quyết nạn ùn tắc và xử phạt mấy phương tiện chạy ẩu, nhất là mấy chiếc xe hơi quẹo trái sai luật.

Hai anh sĩ quan cảnh sát này có lẽ thuộc loại vất vả nhất trong ngành vì thời gian của hai anh hầu hết đều phải đứng ngoài nắng hoặc ngoài mưa để phân luồng và điều chỉnh đèn tín hiệu, chỉ cần hai anh vắng bóng một lúc là mọi phương tiện lại di chuyển hỗn độn và cái ngã tư lại nùi nùi một mớ xe cộ.

Chỗ hai anh thường đứng trực có một cái tủ điện chìm, lúc nào cũng có nước uống. Sáng sớm thì có café, nắng lên thì trà đá, chiều thì có nước đá chanh… Mỗi khi uống hết nước thì anh sĩ quan trẻ hơn lại băng qua đường đem trả những cái ly cho một quán cóc gần đó. Quán cóc lề đường nhưng lúc nào cũng có khách ngồi.

Lát sau bà chủ quán lại tất tả bưng qua cho hai anh cảnh sát một món thức uống mới, đúng lúc tôi đứng gần đó. Anh sĩ quan lớn tuổi hơn quay qua nói, hình như cốt để cho tôi nghe: “bà này bả cho tụi tôi uống nước miễn phí cả tháng nay, nói hoài mà hông chịu cầm tiền, mơi mà không lấy tiền là tụi tui không uống nữa nghen bà.” Bà già cười lớn, ha hả, “mấy chú làm việc cực khổ, tui đãi miếng nước, chuyện nhỏ xíu mà, mấy chú uống cho tui dzui.”

4.

Những ngày Sài Gòn trời nắng gắt, đi ngoài đường hay thấy mấy thùng ghi “trà đá miễn phí”, ai muốn uống thì uống.

Dân xe ôm, xích lô là khoái mấy thùng trà đá miễn phí này lắm, ghé lấy cá ly nhựa, rót uống ừng ực rồi cứ vậy đi, không cần phải cảm ơn, có ai đứng đó đâu mà cảm ơn.

Một lần ông xe ôm chở tôi đi công chuyện xin phép tấp vô lê uống ly trà đá, tôi mới biết là có trà đá miễn phí. Đó là thùng trà đá miễn phí tôi thấy đầu tiên, nó ở gần bệnh viện 115, mặc dù nó không có bảng ghi “miễn phí”, chỉ thấy một thùng trà đá để ngoài đường, ai qua lại nếu biết cứ tự động rót mà uống. Uống hết có người ra châm trà, châm nước, bỏ đá vô.

Tôi hỏi ông xe ôm, trà đá miễn phí kiểu vầy có nhiều không chú. Ổng nói cũng nhiều, khúc nào cũng có, tùy mình biết chỗ mà ghé uống, trời nắng vầy có ly trà đã cũng đã lắm chú. Tui không phải nghèo đến mức cần phải uống trà đá miễn phí, tui uống bị thấy khoái vậy thôi. Người ta có lòng, mình cũng mát lây.

5.

“Bây giờ cầm tờ báo lên là rầu, hết muốn coi báo” – Câu này của một đại gia ở Sài Gòn. Đại gia này có lẽ đã về hưu, con cái đã thành đạt lấy vợ lấy chồng ở riêng hết.

Đại gia này thường hay ngồi ở quán café cóc lề đường của một bà già, tôi gọi ông là đại gia vì cái dáng sang trọng với mái tóc bạc trắng và quần áo chỉnh tề của ông, dù chỉ là ra lề đường uống ly cafe. Sáng nào ông cũng có mặt, dù nắng hay mưa.

Sáng nào ngồi ở café đại gia cũng mua báo, chắc chắn là có Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Người Lao Động, Công An, Pháp Luật… thỉnh thoảng ông mua tờ tạp chí hoặc nguyệt san. Đại gia chỉ mua báo của hai người, một con bé và một thằng bé quen, bữa đứa này bữa sau đứa kia. Hai đứa trẻ bán báo không bao giờ cạnh tranh nhau quyết liệt hoặc tỏ ra giành mối, chúng vui vẻ cùng phục vụ một vị khách hàng. Đại gia mua rất nhiều nhật báo nhưng lúc ra về chỉ đi tay không.

Sau này, khi có dịp ngồi ở quán café cóc đó trong một buổi sáng tôi mới biết. Nếu hôm đó đại gia mua báo của thằng bé, sau khi lướt qua vài tin tức quan trọng ông lại gấp tờ báo lại như cũ và đem cho con bé đi bán tiếp và ngược lại, nếu mua của con bé thì ông sẽ đem cho thằng bé để nó đi bán cho người khác, tiền thì ông vẫn trả đủ.

6.

“Cho nhiêu cũng được” – Câu này ai ở Sài Gòn chắc là biết, chắc thỉnh thoảng có nghe, nhất là khi đi taxi, xe ôm, xích lô… nếu là khách đi quen rồi hoặc quãng đường gần quá khó trả giá thì bác tài sẽ nói vậy: chú (cô) cho nhiêu cũng được.

Nói vậy chứ ai đành lòng cho ít, ví như đúng ra bảy ngàn thì khách sẽ đưa mười ngàn cho chẵn tiền.

Đó cũng không hẳn vì ít tiền quá mà nói vậy, cũng có khi nhiều thứ giá trị hơn người bán cũng nói: cho nhiêu cũng được. Như chuyện có cô giáo nọ dạy văn ở một trường cấp hai, cô nổi tiếng là thương học trò như con, những đứa học trò luôn đến nhà cô để hỏi bài, để học nhóm hoặc đôi lúc có chuyện gì buồn cũng kiếm cô để nói chuyện. Mỗi buổi sáng cô giáo hay đi chợ ở gần nhà để tiện việc cơm nước. Trong chợ có rất nhiều người bán hàng biết cô là cô giáo, và họ thường gọi luôn là “cô giáo”. Nhiều khi cô giáo cũng khó xử với các bà, các chị trong chợ, họ cứ bỏ vô giỏ cô khi thì con cá, khi thì bó rau, khi thì ký thịt… khi cô đòi trả tiền thì họ không chịu lấy hoặc nói: cô giáo cho nhiêu cũng được.

Sài Gòn là vậy, cho nhiêu cũng được

7.

Ông là thương binh, thương binh của chế độ cũ, ông bị thương gần ngày Sài Gòn giải phóng. Sau giải phóng ông làm nhiều nghề để sinh sống và để nuôi ba đứa con ăn học.

Một lần nọ ông làm công việc bảo vệ ở một nhà hàng vào buổi tối, đó là một nhà hàng lớn, khá sang trọng và có rất nhiều nhân viên. Thực chất công việc của ông là chuyên dắt xe và coi xe cho khách đến ăn nhậu mà thôi. Chủ nhà hàng là một người đàn ông khá giả và cư xử rất được.

Một hôm có chuyện. Đêm khuya khi nhà hàng chuẩn bị đóng cửa và mọi người cũng chuẩn bị ra về thì có một nhóm người hung dữ cầm mã tấu xông vào nhà hàng truy sát người chủ. Người đàn ông tuy khá cao to và nhanh nhẹn nhưng khó có thể chống cự với bốn năm tên giang hồ sát thủ chuyên nghiệp, tất cả mọi người bỏ chạy tán loạn. Ông thấy vậy không được nên thay vì bỏ chạy thì ông lại đứng ra bảo vệ chủ mình, vừa đỡ đòn vừa dìu anh này bỏ chạy. Nhờ sự giúp sức của ông, nạn nhân đã thoát thân tuy cũng bị thương nhẹ, còn ông thì bị hai nhát chém nặng mà một nhát sau này đã làm ông không thể cử động cánh tay phải.

Người chủ nhà hàng sau vụ đó mang ơn ông lắm dù ông nhiều lần nói “chú ơi, tôi làm công cho chú thì phải bảo vệ chú thôi, ơn nghĩa gì mà chú cứ nói hoài”. Và mặc dù ông đã nhiều lần từ chối nhưng người chủ nhà hàng vẫn mua cho ông một căn nhà nhỏ, chu cấp hằng tháng đủ nuôi cả gia đình ông và cho tiền ba đứa con ông ăn học.

Chuyện xảy ra đã lâu rồi. Hôm qua tôi ngồi trong ngân hàng, ngồi kế bên cậu con trai lớn của ông và được nghe câu chuyện này. Cậu nói: chú đó sắp đi Mỹ rồi nên bữa nay chú kêu con ra ngân hàng mở tài khoản để mai mốt chú chuyển tiền về.

8.

Chuyện này nghe một bạn sinh viên mới ra trường kể.

Bạn nói trước nhà bạn nghèo lắm, mẹ bạn bán vé số ở Quận Tám và bạn cũng đi bán phụ mẹ, nếu bạn học buổi sáng thì sẽ phụ mẹ bán buổi chiều và ngược lại, nhà chỉ có hai mẹ con, thu nhập từ tờ vé số chỉ đủ để hai mẹ con trang trải cuộc sống, vốn rất khó khăn.

Có một chú thợ hồ ở gần nhà, nói là gần nhà chứ thực ra là ở một cái chòi trong một con hẻm sâu chạy sát bờ kinh, chú này mỗi buổi chiều sau khi nhậu sương sương thường hay mua vé số của hai mẹ con cậu. Chú thợ hồ mua không nhiều, mỗi lần chỉ mua hai vé, nhưng điều đáng nhớ là sau khi trả tiền hai vé thì chú sẽ cho lại cậu một vé, và lúc nào cũng căn dặn bằng cái giọng lè nhè hơi men: “nhớ giữ lại hen mầy, phải thì cùng đổi đời.”

Và cậu đổi đời thiệt, một lần cặp vé số định mệnh đã trúng giải độc đắc. Người vợ của chú thợ hồ khi biết chồng mình trúng số độc đắc đã nổi lòng tham và muốn đòi lại tờ vé số mà chú đã cho cậu buổi chiều trước đó. Nhưng chú thợ hồ đã kiên quyết không đòi lại, chú nói phần ai nấy hưởng, chú còn dùng tiền trúng số đã cả xóm một bữa nhậu linh đình.

Có vốn, mẹ cậu không bán vé số nữa mà chuyển ra mở quán bán đồ ăn sáng và từ đó cuộc sống của hai mẹ con đã khá hơn trước rất nhiều. Riêng chú thợ hồ thì vẫn làm thợ hồ, bây giờ chú mua vé số của một người khác nhưng cái tật cũ vẫn không bỏ, mua hai vé và cho lại người bán một vé. Chú luôn dặn: “nhớ giữ lại hen mầy, phải thì cùng đổi đời.”

9.

Ông chạy xe ôm ở Quận 10 nhưng nhà ông thì ở tận ngã tư An Sương, vợ ông bán vé số ở một chỗ quen đã mười mấy năm nên ông thường đậu xe ôm kế bên chỗ bà bán.

Hai người mang cơm theo ăn buổi sáng và buổi trưa, buổi chiều thì trả vé về sớm rồi cùng về nhà nấu cơm ăn. Ở đoạn đường đó ai cũng mến ông bà, một phần vì họ đáng mến, một phần vì tình vợ chồng vẫn mặn nồng dù đến tuổi gần đất xa trời.

Quê ông bà ở Cần Giuộc. Bữa nọ tôi thấy có người trông dáng như ở quê lên, chạy xe máy tới ghé cho ông bà già hai con gà, một buồng chuối và một giỏ đệm đầy cá trê phi, con nào con nấy mập ú, vàng óng. Tôi tò mò hỏi: bà con dưới quê gửi lên hả chú? Ông cười, nói “đúng ở quê gửi lên nhưng mà hông phải của bà con, thằng đó nó chiếm đất của tui đó chớ.”

Nhà ông có nhiều anh em, cha ông lúc trước khi mất có chia cho ông ba công ruộng ở quê. Ruộng đất phèn lại bị nước mặn xâm thực nên một năm chỉ trồng được một vụ mà lại có mùa trúng mùa thất nên ông bỏ đó lên Sài Gòn chạy xe ôm. Ruộng bỏ hoang lại nằm xa xóm nhà dân nên không ai coi. Một lần ông về quê và phát hiện ruộng của mình có người chiếm mất. Đó là một gia đình nghèo, rất nghèo, hai vợ chồng và bốn đứa con nheo nhóc, trước họ sống theo ghe thương hồ nhưng cái ghe nát quá nên cả gia đình dắt nhau lên bờ kiếm đất hoang lập nghiệp, cũng đã bị đuổi cùng đường mới tới đây. Dựng cái chòi ở, trồng ba thứ lăng nhăng, nuôi con gà, con chó.

Mới đầu ông cũng làm căng, thưa lên xã rồi nhờ bà con tới đòi kịch liệt lắm, nhưng do đất nhà từ xưa khẩn hoang không có giấy tờ, lúc chia cũng không lập di chúc nên khó nói lý. Rồi ông phát hiện bà vợ mình bị tiểu đường nặng nên thời gian còn lại của ông chủ yếu ở bên bà, ông không thiết đòi đất nữa. Một lần về quê đám giỗ ông đã ký giấy cho gia đình nghèo nọ ba công đất luôn.

Ông nói, mình cũng nghèo mà thấy tụi nó còn nghèo hơn. Mình già rồi, sống nay chết mai, thôi coi như làm phước cho tụi nó. Cũng được cái là vợ chồng nó cũng biết điều, nhận tía má luôn, đem lên cho đồ hoài, ăn hổng hết.

10.

Hẻm chật, lại đông đúc, chủ yếu là dân lao động, nhà lụp xụp san sát. Có một đoạn giữa hẻm phình ra, rộng hơn mấy chỗ khác được chiếm dụng làm một cái quán phở nhỏ.

Chủ quán là ba mẹ con, chính xác là bà ngoại, mẹ và đứa con gái trạc mười lăm mười sáu tuổi, hai người lớn đều bị chồng bỏ theo vợ bé, chuyện đó cả hẻm ai cũng biết.

Quán phở rất đông khách, nhất là buổi sáng trước giờ đi làm và buổi chiều tối, chủ yếu là bưng đến tận nhà cho khách nhưng cũng có khi khách đến bàn ngồi, có lẽ là để có dịp nói chuyện với chủ quán, vốn rất sởi lởi và hay chuyện. Quán chỉ có hai bàn, được gọi tên là bàn số Ba và bàn số Sáu, hỏi bà chủ sao đặt kỳ vậy, không theo thứ tự gì hết, bả cười lớn: “vậy cho nó xôm”. Buổi tối nghe bà chủ nói chuyện sang sảng, thỉnh thoảng lại hét cô con gái: “tái bàn Ba nè”, hoặc “gân bàn Sáu sao chưa bưng”…

Khoảng sau 10 giờ đêm thì quán mới thực sự đông, lúc này nồi phở đã cạn dần, thịt, bánh cũng đã hết, chỉ còn chút nước lèo, xí quách. Lúc này khách ăn phở đã vắng, chỉ còn khách đến nói chuyện, đây là những khách hàng đặc biệt, hầu hết họ đều được ăn miễn phí, ăn thoải mái. Có người bưng tô cơm nguội ra xin chan chút nước lèo ngồi ăn, có người ngồi gặm xí quách hoặc ăn mấy miếng gân còn dư chấm với tương đen. Đó là những phụ nữ bán hàng đêm về, vài chị công nhân vệ sinh, mấy bà già bán vé số… họ xúm vào ăn uống, chuyện trò rồi cùng phụ chị chủ quán dọn dẹp, rửa tô, chùi nồi… trong những câu chuyện kể và tiếng cười nói rổn rảng.

Những người khách đặc biệt ấy, đa số đều đều đã có một ngày vất vả khắp những nẻo đường Sài Gòn, họ kể cho bà chủ quán nghe chuyện này chuyện nọ, chuyện của họ hoặc chuyện họ thấy trên đường. Bà chủ quan rất thích nghe chuyện của họ, bằng đủ thứ giọng nói, giọng Bắc, giọng Huế, giọng Quảng, giọng nẫu… thỉnh thoảng thấy bà cười ha hả, có lúc thì ngậm ngùi, đôi lúc chưa nghe dứt chuyện đã chửi ỏm tỏi: “đ.m, thằng đó gặp tao hả, chết mẹ nó…”

11.

Bạn lên xe gặp bác tài lớn tuổi, chào hỏi, kể chuyện rôm rả. Bác tài hỏi “coi Thúy Nga không, để tui mở coi, đĩa mới nè, đĩa gốc luôn đó”. Hỏi sao bác có đĩa gốc.

Kể rằng “hồi nãy có bốn đứa nhỏ mướn xe đi chơi, mấy đứa thiệt là dễ thương, đưa cái đĩa DVD gốc mở nhạc coi. Đi một vòng hết 205 ngàn, tụi nó đưa 250 ngàn luôn, còn cảm ơn bác tài và tặng lại cái đĩa”. Bác tài nói với niềm vui khôn tả và kết luận: “nghề này cực khổ lắm, thỉnh thoảng gặp khách dễ thương cũng an ủi phần nào.”

Xe đến nơi, chỉ có 30 ngàn nhưng bạn chỉ còn 20 ngàn lẻ. bạn loay hoay định đi tìm chỗ đổi tiền thì bác tài nói: “thôi đưa hai chục được rồi cô, coi như mấy đứa nhỏ hồi nãy phụ cô chỗ còn thiếu.” Khi được cảm ơn thì bác cũng phẩy tay trong nụ cười “Chuyện nhỏ mà cô”.

12:

Một hôm bạn đi chợ giữa trưa, tranh thủ giờ nghỉ trưa cơ quan để mua món đồ. Bạn ra đến chợ và chọn hàng xong thì mới nhớ là mình quên mang tiền.

Khó xử vì hàng thì cần mua gấp mà chẳng lẽ lại phải quay lại công ty lấy tiền vì giá trị món hàng cũng không lớn.

Suy nghĩ một hồi bạn quyết định bước ra đường, vẫy một chiếc taxi và nói với bác tài: “anh có thể cho em mượn tiền trả tiền đồ rồi lát chở em về lấy tiền luôn hén”. Bác tài taxi vui vẻ móc ví được hơn hai trăm ngàn đưa cho bạn. Bạn cầm tiền bước vô chợ mà cứ thắc mắc sao anh tài xế lại dễ tin người vậy nhỉ. Rủi người ta lừa ảnh thì sao

Lúc ra, lên xe hỏi anh tài xế taxi “có sợ tui lừa lấy hết tiền không”. Anh chỉ cười.

13.

Có một con đường nhỏ, hơi xuôi dốc, thường khá vắng nhưng lại nối hai con đường tấp nập ở trung tâm thành phố, nơi được mệnh danh là phố Nhật, với rất nhiều nhà hàng Nhật và khách sạn dành cho khách Nhật.

Hai bên đường thường làm chỗ đậu xe hơi, chủ yếu cũng là xe của các xếp Nhật đến ăn uống hoặc làm việc.

Trước ở đây có một quán café cóc, chủ yếu phục vụ cánh tài xế vẫn đậu xe trên đường này. Quán có rất nhiều ghế nhựa, loại nhỏ và nhiều màu để cho khách ngồi hoặc đặt mấy ly café, vài tờ báo. Café giá bình dân, chủ quán cũng dễ thương, trà đá miễn phí, khách ngồi bao lâu cũng được, đọc báo hoặc bắt chuyện lẫn nhau.

Quán có một cái ghế gỗ nhỏ, có lẽ được làm từ gỗ tốt nhưng đã cũ kỹ và xộc xệch. Chiếc ghế này được đặt ở sát lề đường và chủ quán thường không cho ai lấy ngồi cả, cứ để nó nằm ngoài nắng ngoài mưa vậy thôi. Một việc hơi lạ.

Một tài xế ngồi gần đó cho tôi hay: đó là cái ghế bắt cướp. Bọn cướp giật rất hay ra tay khu này, nạn nhân chủ yếu là các du khách người Nhật, các bà và các cô, chúng giật túi xách, điện thoại, camera của họ và phóng xe chạy rất nhanh qua đường này. Chủ quán để cái ghế đó, ai ngồi gần hoặc ai thấy trước thì dùng cái ghế mà ném vào xe bọn cướp, có khi bắt được có khi không, lúc trước thì bắt được nhiều, sau này thì ít dần. Có lẽ bọn cướp đã ngại cái ghế nên chuyển địa bàn. Các bà các cô người Nhật cũng yên tâm hơn.

14.

Có nhiều chuyện về dân nhậu, chủ yếu là chuyện xấu, nhưng dân nhậu ở Sài Gòn cũng nhiều cũng có nhiều chuyện vui, đa số là vui.

Mới đầu buổi chiều chỉ có hai anh em ngồi uống bia quán lề đường nói chuyện đá banh, bàn kế bên có mấy gã cũng nói chuyện tương tự, hóng qua hóng lại một hồi thì hai bàn gom lại làm một, lát sau thì cái tụ nhậu đó đã thành một vòng tròn lớn. Uống đi, bữa nay vui, tiền thì lát nữa “cam bu chia” sau. Mấy ông mặt đỏ phừng phừng tranh nhau làm huấn luyện viên cho đội tuyển Việt Nam, rồi cuối buổi nhậu cả nhóm lại trở thành một ban nhạc cổ động bóng đá ầm ĩ, lúc này thì tất cả các bàn trong quán đều hát chung hoặc cùng nâng ly.

Có lần một anh bạn tôi uống say quá, được một bạn nhậu chở về tận nhà. Quay tới quay lui tìm đường cuối cùng thì cũng gõ cửa đúng nhà để giao lại anh bạn tôi cho gia đình. Khi vô nhà gặp chị vợ, anh bạn nhậu tốt bụng còn bàn giao phiếu gửi xe, bóp tiền, điện thoại cho chị vợ rồi mới cáo từ. Sáng hôm sau anh bạn tôi tỉnh rượu mới kể chuyện này cho tôi nghe, anh nói thực ra người đưa anh về nhà hôm qua là một người không hề quen biết. Anh chỉ gặp anh ta lúc cùng đi vệ sinh. Khi ra về, người kia thấy anh quá xỉn, nên đã kêu anh gửi xe lại quán và hỏi địa chỉ để chở anh về nhà. Chẳng phải bạn bè chi đâu.

15.

Buổi sáng, khi đến cơ quan,  tôi thường đi bộ qua một con hẻm yên tĩnh. Như mọi con hẻm ở Sài Gòn, con hẻm nhỏ chạy lắt léo với những ngôi nhà lô nhô mất trật tự.

Ở góc hẻm là một hàng nước nhỏ, bán café và vài thứ tạp phẩm với đôi cái bàn nhựa và những cái ghế nhỏ xíu, quán do một bà lão  ngồi bán. Khách hàng quen thuộc của quán là những người khiếm thị ở một trung tâm gần đó. Tôi thấy họ ngồi quanh bàn và nói chuyện với nhau, cùng cười đùa, dù mắt họ nhắm nghiền hoặc chỉ có màu trắng mờ đục. Thỉnh thoảng có vài anh thợ hồ hoặc một chị mua phế liệu cũng ghé uống nước.

Đoạn hẻm phình ra gần quán nước của bà lão luôn rất nhiều chim, chim sẻ thôi nhưng chúng rất dạn dĩ. Bầy chim sẻ tụ tập ăn lúa trên nền bê tông tạo ra những thanh âm rất vui và những khách hàng khiếm thị tỏ ra rất thích thú. Lúc nào cũng có lúa trên sàn bê tông và bầy chim sẻ.

Sáng nay tôi đi sớm, thấy bà lão chủ quán nước đang xúc lúa đổ ra hẻm, bầy chim sẻ háo hức sà xuống, chúng còn đậu cả lên tay, lên áo bà lão.

(Còn tiếp)

Đàm Hà Phú

NO COMMENTS