THANH LAM, TÔI NGHĨ VÀI ĐIỀU

Chị Thanh Lam hát hay. Trong mỗi người đương thời, tôi chắc vẫn chạm vào miền ký ức của Khúc Mưa, Giọt Nắng Bên Thềm, Một Ngày Mùa Đông, Cho Em Một Ngày, Vẫn Hát Lời Tình Yêu… Thành công của âm nhạc, hoặc ca sĩ nói riêng, là chạm vào ký ức của ai đó. Bạn tôi nói vậy.

Chị Lam, chị Linh và Hồng Nhung là những ngôi sao lớn, những ngôi sao cô đơn trên thị trường nhạc nhẹ ở những thập niên 90 ngập ngụa nhạc Đỏ hoặc nhạc Vàng.

Trong quá khứ vàng son ấy, Thanh Lam là người chăm phá cách nhất. Như thể chị muốn tìm một đối thủ khác cho chính mình. Phải là một Thanh Lam gì đó đỉnh cao hoàn mỹ. Chị bắt đầu uốn giọng hát, bắt đầu phô trương nội lực và kỹ thuật. Điều này, khiến các bài nhạc mất tự nhiên vô cùng. Khán giả nghe chị hát lắm lúc khó thở.

Cả một thời đoạn dài cho đến bây giờ, cảm giác như chị không hát cho khán giả nữa, chị như thể, chỉ hát cho chính mình. Và bởi vậy, chị mất dần sức hút. Nếu thẳng thắn với điều này chị sẽ thấy mặt trái của sở học khi bị lạm dụng.

Chị Lam cũng là chứng nhân của một buổi giao thời. Khi nhạc thị trường bắt đầu len lỏi vào VN. Khởi nguồn từ Làn Sóng Xanh, thị hiếu của khán giả bắt đầu thay đổi. Người nghe không dễ tính với các thể loại mì ăn liền nhưng vẫn rung động với những cơn gió mới ít mô phạm hơn. Kiểu như anh Quang Linh nuôi con chim sáo và con chim đa đa một phát vừa giàu vừa nổi tiếng.

Sau đó là Đan Trường, với mái tóc chẻ bềnh bồng, gương mặt khả ái, mang thân phận một anh thợ cửa sắt vào âm nhạc đã nhận rất nhiều sự bỉ bai, thậm chí miệt khinh đến từ đồng nghiệp và cả người nghe. Bất chấp, Đan Trường ngự trị trên đỉnh cao hàng chục năm trời.

Có học sau này là Ưng Hoàng Phúc nếu không gặp em đời anh đã khác nhiều rồi. Phúc và 1088 đang học nhạc viện thì bỏ ngang ra thị trường và thành công mỹ mãn.

Sau nữa là Mr.Đàm, người thợ cắt tóc không dẫu nhiên trở thành ông hoàng nhạc Việt cho tới bây giờ. Ở Đàm là một nguồn năng lượng vô biên. Và trên nhất là sự nắm bắt thị hiếu. Tôi không mấy thích Đàm nhưng phải công nhận anh hát nhạc nào cũng hay. Một nguồn năng lượng cống hiến vô biên mà tôi tin chẳng có trường lớp nào đào tạo được.

Nói sơ để thấy rằng. Thành công ở nghệ thuật không cứ là trường lớp. Dẫu nhiên, được đào tạo bài bản mà chinh phục thị trường âm nhạc thì sẽ trọn vẹn hơn. Nhưng cũng không ai minh định rằng đó là địa hạt riêng của những người được có học.

Nghệ thuật cũng như cuộc sống, luôn có một lối mở cho tất cả. Vấn đề là tâm thế của mỗi người. Tâm thế của người nghệ sĩ, tôi nghĩ là sẵn sàng cháy hết mình cho nghệ thuật và cởi mở với những điều khác lạ. Là không tự đặt mình cao hơn người khác. Là dám chấp nhận lùi vào ký ức của người nghe thay vì cố ru ngủ mình đang ngự trị trên đỉnh cao huyễn hoặc.

Nghệ sĩ, như những bông hoa. Điều tôi quan tâm là bông hoa ấy có rực rỡ hay không. Tôi không bao giờ xem nó ở góc độ là bông hoa dại hay hoa ở lầu son.

Một bông hoa đẹp đúng nghĩa, không bao giờ vươn cao bằng cách đạp lên những bông hoa quanh mình…

NGUYỄN TIẾN TƯỜNG

Nếu có ai bất chợt hỏi tôi hãy kể ra 3 ca khúc làm tôi nhớ mãi cả đời, tôi sẽ trả lời ngay không suy nghĩ:

– Thái Thanh hát “Đường chiều lá rụng”, đỉnh cao của nghệ thuật hát thơ của tân nhạc Việt Nam. Bản sonnet bằng Việt ngữ, bàng bạc ý thơ Apollinaire đó, tôi đoan chắc chưa ai vượt qua nổi.

– Hà Thanh hát “Hương xưa” : “còn đó bóng tre êm ru, còn đó con diều vật vờ, còn đó những đêm sao mờ lòng ta bâng khuâng theo gió vi vu”. Diễm lệ, nhã nhặn, nhẹ nhàngnhư một chiếc lá tre là đà theo dòng nước… Ca khúc này nói không ngoa, đặt nền tảng cho âm nhạc thính phòng Việt Nam, lời đẹp sang trọng mà chơi như khí nhạc cũng muôn phần lộng lẫy.

– Lê Uyên nức nở câu “Ðừng nhìn nhau mắt hoen lệ nhòa, Ðừng bùi ngùi khóc tim se môi chùng” với niềm đau chia ly tưởng như muôn kiếp. Chỉ một ca khúc thôi mà chân dung của bao tình nhân Việt hiển lộ buồn da diết… Không ai, không một ai có thể hát câu này hay hơn người tình Lê Uyên của một Đà Lạt xưa cũ.

Và cũng không một ai trong họ đã qua trường lớp âm nhạc. Họ sang trọng, quí phái, có một nền giáo dục bài bản. Và họ là một phần cộng sinh của văn hóa văn nghệ miền Nam trước 1975. Nền văn hóa ấy đã diễn kịch của Albert Camus bằng tiếng Pháp ở Viện Đại học Đà lạt, chỉ sau Paris 2 tháng. Đừng quên điều đó mà buông lời khinh mạn!

Đó mới là một trong nhiều phẩm chất âm nhạc cao quí của miền Nam, chứ không phải não tình bolero. Bolero miền Nam không tệ, nhưng nó chỉ đến thế. Bolero chỉ là đại diện nhỏ nhoi của âm nhạc miền Nam, bên cạnh những trời cao biển rộng dân nhạc, bình ca, hùng ca, nhạc tuổi ngọc, tình ca, chiến ca… Sự xiển dương bolero có phần thái quá mà ta đang thấy phải được nhìn nhận như một thái độ phản kháng, một cú tụt quần chĩa mông vào mặt các bậc “nhạc phiệt”: “tôi là sến đấy, nhưng sến mà người ta nhớ, người ta hát say mê. Chứ không phải loại âm nhạc đỏ lòm tanh máu của quí ông, nhá!”

Do đó, tôi chia sẻ với Thanh Lam về ý nghĩ bolero là một cái kho đã cạn. Âm nhạc miền Nam không chỉ có bolero, mà nó sang trọng, lộng lẫy hơn nhiều. Mặc dù ca sĩ, nhạc sĩ miền Nam hồi đó không tốt nghiệp trường âm nhạc quân đội như nàng. Thậm chí đa phần là tự học mà thành danh (nhưng cóc có chút danh hiệu nghệ sĩ nhân dân hay ưu tú nào lận lưng)

Nhưng tôi, người nghe nhạc thì không màng đến bằng cấp hay danh hiệu của ca sĩ. Tôi nghe Thanh Lam vặn vẹo, nhăn mặt, hú hét… hát Hương Xưa của Cung Tiến, lòng lạnh tanh, chỉ thấy dấy lên trong lòng những cảm giác hài hước và những suy nghĩ khá bậy bạ có liên quan đến… giới tính. Nói khí không phải, vẻ đẹp Trung Đông hoang dại, cộng với sự quằn quại của nàng làm ta liên tưởng đến các tư thế trong cuốn Tố Nữ kinh – Kamasutra của Ấn giáo.

Cứ đó mà xét, nàng là một ca sĩ thất bại, và là một người đàn bà thành công (về mặt gợi dục)

Thật thà tường thuật chút cảm xúc âm nhạc vậy thôi. Quí bạn nghĩ là khen hay chê thì tùy!

PHUONG LE

BOLERO VÀ PHÁT TRIỂN BAO TRÙM

Có lẽ sự thịnh hành của các dòng nhạc phản ánh tâm trạng của xã hội và sức khoẻ của nền kinh tế.

Nhạc hải ngoại lên ngôi ở thập niên 1990 phản ánh sự háo hức và hăm hở với mở cửa của người Việt. Khi đó, ngay cả khi nghe Chuyện ba người của Tuấn Vũ thì tâm trạng của số đông là sự rạo rực với những điệu nhảy bốc lửa của Linda Trang Đài.

Đến thập niên 2000, khi những quả ngọt của đổi mới và mở cửa được hái, sự lạc quan yêu đời với những tương lai tươi sáng đã làm cho những làn điệu trữ tình về quê hương đất nước được vút cao.

Đến nay, những hậu quả của sự vấp ngã do lạc quan thái quá và những chính sách phát triển không phù hợp bộc lộ rất rõ. Cuộc sống trong nước của nhiều người thì bấp bênh với nhiều rủi ro về an toàn, bệnh tật; nhiều người phải tha phương làm thuê xứ Đài, làm dâu xứ Hàn…

Do vậy, những làn điệu bolero buồn của những ban nhạc bình dân như Tam ca thuốc lào đến những tên tuổi nổi tiếng phù hợp với tâm trạng của số đông hơn.

Sự lên ngôi của bolero là một chỉ báo cho thấy tính bao trùm trong phát triển của Việt Nam dường như chưa đạt được cho dù tỷ lệ tăng trưởng GDP năm thấp nhất của hơn một thập niên qua cũng không đến nỗi nào.

Nói thêm chuyện bếp núc một chút

Phải chăng hầu hết các show diễn hoành tráng của các ca sỹ hải ngoại mà chủ yếu là bolero ở Hà Nội chứ không phải là Sài Gòn – TPHCM là lý do có nhiều tiếng bấc, tiếng chì từ những người có lợi ích liên quan? Nhiều vấn đề đôi khi được nâng quan điểm lên quá mức, nhưng nhìn trần trụi có khi đơn giản chỉ là lợi ích hay con gà tức nhau tiếng gáy.

Nhìn theo quan điểm chi phí hay sức lao động bỏ ra (đã rất lỗi thời) thì quả là phi lý khi các cuộc thi sắc đẹp (chỉ nhờ sắc đẹp trời phú) có giải thưởng rất lớn, trong khi các cuộc thi trí tuệ (phải khổ luyện rất nhiều) thì giải thưởng chẳng đáng là bao.

Trái lại, nhìn theo các quy luật thị trường thì có thể giải thích rất dễ. Không ai chấp nhận chi trả cao hơn lợi ích/giá trị mình nhận được trực tiếp. Những gì phổ biến, được nhiều người đón nhận là chúng đang mang lại lợi ích cho họ.

Tóm lại, nhìn thị hiếu âm nhạc của công chúng cũng có thể thấy được những vấn đề của xã hội và những hàm ý chính sách rất rõ ràng.

HUỲNH THẾ DU

NO COMMENTS